Cắt giảm thực chất để doanh nghiệp không còn “gánh nặng vô hình”
Theo báo cáo, dự thảo Nghị quyết gồm 6 điều và 2 phụ lục, dự kiến có hiệu lực từ ngày 1/7/2026 đến 1/3/2027.
![]() |
| Hội đồng thẩm định độc lập đối với dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về cắt giảm ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. |
Tránh “gom thủ tục” thay cho cắt giảm
Theo báo cáo, dự thảo Nghị quyết gồm 6 điều và 2 phụ lục, dự kiến có hiệu lực từ ngày 1/7/2026 đến 1/3/2027. Nội dung chính là sửa đổi, bãi bỏ và thu hẹp phạm vi một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo Phụ lục IV của Luật Đầu tư. Đối tượng áp dụng bao gồm nhà đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức, cá nhân liên quan.
Cụ thể, dự thảo đề xuất sửa đổi 14 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và bãi bỏ 60 ngành, nghề thuộc quản lý của 12 bộ, ngành và cơ quan ngang bộ. Các lĩnh vực bị cắt giảm trải rộng từ tư pháp, giáo dục, y tế đến công thương, xây dựng và ngân hàng. Động thái này thể hiện quyết tâm mạnh mẽ trong việc tinh gọn hệ thống điều kiện kinh doanh còn chồng chéo.
| Tính đến ngày 15/4/2026, các bộ, ngành đã thực thi phương án đơn giản hóa và chủ động cắt giảm 292 thủ tục hành chính, đơn giản hóa 1.640 thủ tục hành chính; cắt giảm 2.594/6.974 điều kiện kinh doanh (đạt tỉ lệ 37,2%); tương ứng cắt giảm 30,9% thời gian thực hiện thủ tục hành chính (khoảng 27.704 ngày) và 38% chi phí tuân thủ (khoảng 45,5 nghìn tỷ đồng). |
Tuy nhiên, tại phiên họp, nhiều đại biểu cho rằng cần thận trọng trong việc xác định nội dung bãi bỏ. Thực tế cho thấy việc gộp thủ tục hành chính không đồng nghĩa với việc loại bỏ điều kiện kinh doanh. Các yêu cầu quản lý vẫn tồn tại dưới hình thức khác, do đó nếu chỉ “gom, gộp” mà không cắt giảm bản chất thì chưa thể coi là cải cách thực chất.
Các ý kiến nhấn mạnh sự cần thiết phải phân định rõ giữa “bãi bỏ” và “đơn giản hóa” hay “hợp nhất thủ tục”. Việc cải cách cần hướng vào các điều kiện có tác động trực tiếp đến chi phí tuân thủ và hoạt động sản xuất kinh doanh, thay vì chỉ xử lý các thủ tục mang tính kỹ thuật. Đây là yếu tố quan trọng để giảm gánh nặng thực sự cho doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, một số đại biểu đề xuất bổ sung hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả cải cách theo hướng định lượng. Các tiêu chí bao gồm số lượng điều kiện được bãi bỏ, số giấy phép và yêu cầu nhân sự, vốn, cơ sở vật chất được cắt giảm, thời gian xử lý thủ tục và mức chi phí tuân thủ giảm. Đồng thời, cần đo lường mức độ chuyển đổi từ tiền kiểm sang hậu kiểm.
Đảm bảo hiệu quả dài hạn của cải cách
Phát biểu kết luận, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tịnh yêu cầu cơ quan soạn thảo làm rõ hơn cơ sở thực tiễn của việc cắt giảm. Ông nhấn mạnh nhiều quy định hiện hành vẫn gây gánh nặng chi phí tuân thủ, chưa tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo và chưa khơi thông được nguồn lực xã hội. Do đó, cải cách cần đi vào thực chất, không dừng ở hình thức.
![]() |
| Thứ trưởng Bộ Tài chính Tạ Anh Tuấn (ngồi bên phải) tham dự buổi hội đồng thẩm định. |
Về phương án cắt giảm, Thứ trưởng cơ bản đồng tình với hướng tiếp cận hiện nay nhưng lưu ý cần tiếp tục nghiên cứu để bảo đảm hiệu quả dài hạn. Việc gộp thủ tục có thể làm giảm số lượng hồ sơ nhưng chưa chắc giảm nghĩa vụ thực hiện. Vì vậy, cần phân biệt rõ giữa cải cách hình thức và cải cách thực chất trong từng giai đoạn.
Liên quan đến hiệu lực thi hành, Bộ Tư pháp thống nhất áp dụng từ ngày 1/7/2026, đồng thời yêu cầu làm rõ các điều kiện bảo đảm đi kèm. Đặc biệt, cần xây dựng các biện pháp quản lý thay thế phù hợp nhằm tránh khoảng trống pháp lý, đồng thời vẫn bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước, an ninh và trật tự trong bối cảnh mới.
Đối với việc bãi bỏ danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tịnh đề nghị bổ sung quy định rõ trách nhiệm của các bộ, ngành. Các cơ quan cần chủ động ban hành giải pháp quản lý thay thế tương ứng, bảo đảm tính đồng bộ và khả thi. Đồng thời, việc phân định thẩm quyền cần rõ ràng để tránh chồng chéo trong quá trình thực thi.
Về tổ chức thực hiện, yêu cầu đặt ra là phải rà soát, chỉnh lý quy định theo hướng ngắn gọn, rõ ràng và đúng thẩm quyền. Các quy định cần bảo đảm thống nhất với thời điểm có hiệu lực của Nghị quyết, tránh tình trạng trùng lặp hoặc thiếu nhất quán. Đây là điều kiện quan trọng để chính sách đi vào cuộc sống một cách hiệu quả.






