A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Nghị quyết số 68-NQ/TW chuyển hóa chính sách thành nguồn lực cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Với Nghị quyết số 68-NQ/TW, khu vực kinh tế tư nhân được nhìn nhận đầy đủ hơn, được khẳng định là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế.

Nghị quyết số 68-NQ/TW chuyển hóa chính sách thành nguồn lực cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
TS. Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam.

Phóng viên: Sau một năm triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW, ông nhìn nhận chuyển biến rõ nhất đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa là gì?

TS. Tô Hoài Nam: Kết quả rõ nét nhất không chỉ nằm ở các con số thống kê, mà nằm ở sự thay đổi về niềm tin thể chế của cộng đồng doanh nghiệp.

Với Nghị quyết số 68-NQ/TW, khu vực kinh tế tư nhân được nhìn nhận đầy đủ hơn, được khẳng định là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Điều này có ý nghĩa rất lớn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, bởi đây là lực lượng chiếm tỷ trọng lên tới 98% trong khu vực doanh nghiệp tư nhân.

Trước đây, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa thường có tâm lý thận trọng, thậm chí dè dặt khi mở rộng đầu tư do lo ngại về tính ổn định của chính sách, khả năng tiếp cận nguồn lực và sự bình đẳng trong môi trường kinh doanh. Khi Nghị quyết số 68-NQ/TW được ban hành, doanh nghiệp cảm nhận rõ hơn một cam kết chính trị mạnh mẽ về việc bảo vệ quyền kinh doanh, quyền tài sản và quyền cạnh tranh bình đẳng.

Tôi cho rằng, sự thay đổi này đã tác động đến hành vi của doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp trong lĩnh vực dệt may, chế biến nông sản đã bắt đầu khôi phục kế hoạch mở rộng sản xuất, tuyển dụng lại lao động, ký hợp đồng trung hạn thay vì chỉ vận hành theo đơn hàng ngắn hạn. Một số doanh nghiệp nhỏ cũng chủ động hơn trong đầu tư quản trị, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, dù nguồn lực còn hạn chế.

Tuy nhiên, cần nhìn nhận thẳng thắn rằng, cộng đồng doanh nghiệp vẫn đang đối mặt với không ít khó khăn. Năm 2025 có gần 230.000 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường; 4 tháng đầu năm 2026 có gần 109.000 doanh nghiệp rút lui. Những con số này cho thấy sức ép đối với khu vực doanh nghiệp vẫn rất lớn, nên để niềm tin chuyển thành năng lực phát triển thực chất, chính sách phải đi vào đúng những điểm nghẽn mà doanh nghiệp đang gặp.

Phóng viên: Với cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa, đâu là vấn đề cần ưu tiên nhất để tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW chuyển hóa thành lợi ích thực tế, thưa ông?

Về thủ tục hành chính, dù đã cải cách nhiều nhưng doanh nghiệp vẫn phản ánh tình trạng chồng chéo, kéo dài, phát sinh chi phí tuân thủ. Hiện còn nhiều ngành nghề kinh doanh có điều kiện và hàng nghìn điều kiện kinh doanh. Vì vậy, yêu cầu tiếp tục cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục, giảm thời gian và chi phí tuân thủ là rất cần thiết.

Những chuyển động mới về cải thiện môi trường kinh doanh trong cuối tháng 4/2026 cho thấy tinh thần cải cách đang được đẩy nhanh hơn. Việc Thủ tướng Chính phủ ký ban hành chỉ đạo triển khai các nghị quyết về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh là tín hiệu rất tích cực đối với cộng đồng doanh nghiệp.

Nếu được thực hiện nghiêm túc, việc bãi bỏ hàng loạt thủ tục không cần thiết, cắt giảm điều kiện kinh doanh và rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ sẽ trực tiếp giảm chi phí tuân thủ, hạn chế cơ chế “xin – cho” và tạo thêm dư địa cho doanh nghiệp tập trung vào sản xuất, kinh doanh.

TS. Tô Hoài Nam: Vấn đề mấu chốt sắp tới là chất lượng thực thi chính sách của các bộ, ngành và địa phương. Chúng ta đã có chủ trương đúng, chính sách đã bắt đầu rõ hơn, nhưng điều doanh nghiệp cần là khả năng tiếp cận thực tế.

Hiện nay, doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn gặp 3 khó khăn lớn, đó là khó tiếp cận vốn, khó tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất và khó thích ứng với thủ tục hành chính. Đây là những khó khăn không mới, nhưng nếu không xử lý căn cơ thì doanh nghiệp chưa thể lớn lên.

Về vốn, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa thiếu tài sản bảo đảm, thiếu lịch sử tín dụng đủ mạnh, nên khó tiếp cận tín dụng trung và dài hạn. Các chính sách hỗ trợ lãi suất, bảo lãnh tín dụng, quỹ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa cần được thiết kế lại theo hướng dễ tiếp cận hơn, đúng đối tượng hơn. Nếu ưu đãi vẫn nằm ở quy định nhưng doanh nghiệp không đủ điều kiện thụ hưởng, thì chính sách chưa đạt mục tiêu.

Về đất đai, Nghị quyết số 68-NQ/TW đã nêu rất rõ yêu cầu tăng cơ hội tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất, kinh doanh cho kinh tế tư nhân. Đây là điểm rất quan trọng. Với doanh nghiệp sản xuất, không có mặt bằng ổn định thì không thể mở rộng nhà xưởng, đầu tư công nghệ hay tổ chức sản xuất dài hạn. Doanh nghiệp nhỏ và vừa thường yếu thế trong cạnh tranh quỹ đất so với doanh nghiệp lớn, nên cần có cơ chế rõ ràng hơn.

Tôi cho rằng, một số chính sách không chỉ nên dừng ở “cho phép” địa phương thực hiện, mà cần có yêu cầu bắt buộc ở mức phù hợp. Chẳng hạn, việc bố trí quỹ đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa cần được cụ thể hóa bằng chỉ tiêu, lộ trình và cơ chế giám sát. Nếu không có ràng buộc thực thi, chính sách tốt vẫn có thể bị chậm lại ở cấp triển khai.

Nghị quyết số 68-NQ/TW chuyển hóa chính sách thành nguồn lực cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
Nghị quyết số 68-NQ/TW mở ra cơ hội lớn hơn, nhưng nếu doanh nghiệp không thay đổi tư duy thì rất khó tận dụng được cơ hội đó. Ảnh minh hoạ: HD

Phóng viên: Trong giai đoạn tới, doanh nghiệp nhỏ và vừa cần làm gì để tận dụng cơ hội từ Nghị quyết số 68-NQ/TW, thay vì chỉ trông chờ vào hỗ trợ chính sách, thưa ông?

TS. Tô Hoài Nam: Chính sách là điều kiện cần, nhưng nội lực doanh nghiệp mới là điều kiện quyết định. Nghị quyết số 68-NQ/TW mở ra cơ hội lớn hơn, nhưng nếu doanh nghiệp không thay đổi tư duy thì rất khó tận dụng được cơ hội đó.

Trước hết, doanh nghiệp nhỏ và vừa cần thay đổi cách tiếp cận từ kinh doanh đơn lẻ sang liên kết. Doanh nghiệp nhỏ và vừa cần tăng cường liên kết với doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp FDI, hợp tác xã và các đối tác trong cùng ngành để trở thành nhà cung cấp cấp một, cấp hai, hoặc tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.

Đặc biệt, liên kết giữa doanh nghiệp nhỏ và vừa với hợp tác xã là một hướng đi rất quan trọng. Với các lĩnh vực nông nghiệp, chế biến, xuất khẩu, hợp tác xã có thể cung cấp vùng nguyên liệu ổn định, truy xuất được nguồn gốc; doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể đảm nhận chế biến sâu, thương mại hóa và đưa sản phẩm ra thị trường. Nếu được hỗ trợ bằng tín dụng chuỗi, hợp đồng mẫu, bảo hiểm rủi ro và nền tảng số, liên kết này sẽ trở thành đòn bẩy kép, vừa mở rộng quy mô, vừa nâng cao chất lượng phát triển.

Thứ hai, doanh nghiệp phải đầu tư mạnh hơn vào quản trị, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đổi mới sáng tạo. Thị trường hiện nay không chỉ yêu cầu sản phẩm tốt, mà còn yêu cầu minh bạch về nguồn gốc, tiêu chuẩn môi trường, trách nhiệm xã hội và năng lực quản trị.

Thứ ba, doanh nghiệp cần chủ động tìm hiểu chính sách. Một thực tế là nhiều chính sách hỗ trợ đã có, nhưng doanh nghiệp không khai thác được vì thiếu thông tin, thiếu năng lực chuẩn bị hồ sơ hoặc chưa hiểu đầy đủ điều kiện thụ hưởng. Đây là điểm mà cả cơ quan quản lý và các hiệp hội cần cùng vào cuộc. Hiệp hội có trách nhiệm phổ biến chính sách, hướng dẫn doanh nghiệp, phản ánh vướng mắc, nhưng bản thân doanh nghiệp cũng phải chủ động hơn.

Tôi cho rằng, kỳ vọng lớn nhất trong giai đoạn tới là các chính sách theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW sẽ được thực thi nhanh hơn, sát thực tiễn hơn và có cơ chế đo lường rõ hơn. Từng địa phương cần có chỉ tiêu cụ thể về phát triển doanh nghiệp, về số hộ kinh doanh chuyển đổi, về quỹ đất, tín dụng và hỗ trợ đổi mới sáng tạo. Có mục tiêu thì phải có trách nhiệm, có trách nhiệm thì phải có đánh giá.

Nếu Nhà nước tiếp tục kiến tạo, các hiệp hội đồng hành và doanh nghiệp chủ động nâng cấp, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ không chỉ tăng về số lượng, mà còn mạnh hơn về chất lượng. Đây mới là cách để tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW đi vào đời sống kinh tế và trở thành động lực phát triển thực chất.

Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn những chia sẻ của ông!


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
  • :
  • :