Nhà ngoại giao Phạm Quang Vinh: FTA mở ra không gian hợp tác kinh tế rộng hơn
Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh cho rằng, FTA mở cánh cửa thị trường nhưng Việt Nam bước vào bằng vị thế nào thì yếu tố quyết định chính là nội lực.
Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động mạnh, cạnh tranh chiến lược gia tăng, chủ nghĩa bảo hộ nổi lên và chuỗi cung ứng toàn cầu tái cấu trúc, hội nhập kinh tế quốc tế đang đặt ra cho Việt Nam những yêu cầu mới.
Mạng lưới các hiệp định thương mại tự do (FTA) đã mở rộng không gian phát triển, tạo lợi thế về thị trường, thu hút đầu tư và nâng cao vị thế quốc gia. Tuy nhiên, cơ hội chỉ trở thành sức bật khi Việt Nam chuyển hóa được các cam kết FTA thành động lực cải cách thể chế, nâng cấp doanh nghiệp, đáp ứng tiêu chuẩn xanh, lao động, nguồn gốc xuất xứ và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Liên quan vấn đề này, phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với ông Phạm Quang Vinh - Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao.

Ông Phạm Quang Vinh - Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao - Ảnh: NVCC
Kết hợp nguồn lực quốc tế với sức mạnh nội sinh
- Thưa ông, trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động mạnh, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng và chuỗi cung ứng toàn cầu tiếp tục tái định hình, hội nhập kinh tế quốc tế cần được nhìn nhận như thế nào trong chiến lược phát triển và nâng cao vị thế của Việt Nam giai đoạn tới?
Ông Phạm Quang Vinh: Trong phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng, ngày 11/6/2026 vừa có một nội dung rất đáng chú ý, đó là không một quốc gia nào có thể phát triển nhanh chóng và bền vững nếu không tham gia hội nhập quốc tế và hợp tác quốc tế. Điều đó cho thấy, hội nhập và hợp tác quốc tế là một bộ phận không thể tách rời trong tiến trình phát triển đất nước.
Trước đây, chúng ta thường nói ở tầm khái quát hơn, chính trị hơn, đó là kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Nhưng đặt trong bối cảnh hiện nay, vấn đề cần được nhìn nhận cụ thể hơn: tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài phải đi cùng với phát huy năng lực nội sinh của đất nước.
Để làm được điều đó, trước hết, Việt Nam cần có chính sách đối ngoại đủ chủ động, linh hoạt và hiệu quả để tranh thủ tốt các nguồn lực quốc tế, nhất là những nguồn lực có tiêu chí cao hơn, bền vững hơn và phù hợp hơn với yêu cầu phát triển mới. Bên cạnh đó, chúng ta cũng phải sắp xếp, củng cố lại năng lực bên trong của nền kinh tế, từ thể chế, hạ tầng, nguồn nhân lực đến năng lực doanh nghiệp, để tạo sức hấp dẫn thực chất đối với các dòng vốn, công nghệ và tri thức mới.
Vì vậy, câu chuyện then chốt ở đây là sự kết hợp giữa bên trong và bên ngoài. Nguồn lực quốc tế chỉ có thể phát huy hiệu quả khi đất nước có đủ năng lực nội sinh để tiếp nhận, chuyển hóa và biến các cơ hội đó thành động lực phát triển nhanh, bền vững hơn.
- Việt Nam đã tham gia nhiều FTA, tạo nên mạng lưới liên kết kinh tế rộng với nhiều đối tác lớn. Theo ông, lợi thế chiến lược lớn nhất mà các FTA mang lại cho Việt Nam là gì trong bối cảnh thương mại toàn cầu đang phân mảnh, chủ nghĩa bảo hộ gia tăng và chuỗi cung ứng tiếp tục dịch chuyển?
Ông Phạm Quang Vinh: Lợi thế chiến lược lớn nhất mà các FTA mang lại cho Việt Nam trước hết là tạo ra một không gian hợp tác kinh tế rộng hơn trong một thế giới đang bị phân mảnh mạnh hơn. Khi cạnh tranh nước lớn gia tăng, chủ nghĩa bảo hộ quay trở lại và chuỗi cung ứng tiếp tục dịch chuyển, một nền kinh tế có độ mở cao như Việt Nam rất cần những khuôn khổ hợp tác ổn định, có luật chơi rõ ràng và có cam kết dài hạn với các đối tác lớn.
Mạng lưới FTA song phương và đa phương giúp Việt Nam có thêm thị trường, thêm đối tác, thêm dư địa để đa dạng hóa quan hệ kinh tế và tăng khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài. Nói cách khác, FTA tạo ra không gian chiến lược để Việt Nam kết nối sâu hơn với thế giới, thay vì bị động trước những đứt gãy của thương mại toàn cầu.
Nhưng tôi muốn nhấn mạnh thêm một điểm, có không gian thuận lợi là rất quan trọng, song khai thác không gian đó như thế nào mới là câu chuyện quyết định. Nếu chỉ nhìn FTA như lợi thế thuế quan, chúng ta mới đi được bước đầu, muốn đi xa hơn, Việt Nam phải chuyển lợi thế hội nhập thành năng lực cạnh tranh thực chất của nền kinh tế. Đó là năng lực sản xuất, công nghệ, quản trị, tiêu chuẩn, nhân lực và khả năng liên kết của doanh nghiệp trong nước với các chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.
Vì vậy, FTA phải được nhìn như một động lực cải cách, hội nhập bên ngoài đi cùng đổi mới bên trong. Khi năng lực nội sinh của nền kinh tế được nâng lên, Việt Nam mới có thể tham gia vào các phân khúc giá trị cao hơn, chất lượng hơn trong chuỗi cung ứng.
FTA có thể mở cánh cửa thị trường nhưng Việt Nam bước vào bằng vị thế nào lại phụ thuộc vào sức mạnh bên trong của chính mình. Đó là câu chuyện lớn của giai đoạn tới: kết hợp hiệu quả nguồn lực bên ngoài với năng lực nội sinh để hội nhập đi vào chiều sâu và tạo giá trị cao hơn cho đất nước.

Ông Phạm Quang Vinh - Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao trả lời phỏng vấn phóng viên Báo Công Thương - Ảnh: Thái Mạnh
Nâng cấp năng lực
- Các FTA thế hệ mới đặt ra yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn xanh, lao động, nguồn gốc xuất xứ. Theo ông, Việt Nam cần chuyển hóa sức ép tiêu chuẩn này thành động lực cải cách thể chế, nâng cấp doanh nghiệp và tái cơ cấu nền kinh tế ra sao?
Ông Phạm Quang Vinh: Các FTA thế hệ mới đặt ra yêu cầu rất cao, đó là sức ép, song nếu nhìn ở chiều sâu hơn đây cũng là một cơ hội để Việt Nam tự nâng cấp mình. Bởi trong giai đoạn hiện nay tiêu chuẩn xanh, lao động, xuất xứ hàng hóa, sở hữu trí tuệ hay minh bạch hóa chuỗi cung ứng không còn là câu chuyện riêng của một hiệp định thương mại, đó đang trở thành chuẩn mực vận hành của kinh tế thế giới.
Trên thực tế, Việt Nam đã đi qua một quá trình hội nhập khá dài và đã từng bước thực hiện nhiều cam kết như ứng phó biến đổi khí hậu, giảm phát thải, bảo đảm xuất xứ hàng hóa, vệ sinh an toàn thực phẩm, lao động và môi trường. Vấn đề hiện nay là phải chủ động hơn trong cách tiếp cận, nếu chỉ xem các tiêu chuẩn này là điều kiện để hàng hóa vào được thị trường đối tác, chúng ta mới dừng ở mức đáp ứng. Muốn đi xa hơn, Việt Nam cần coi đó là yêu cầu tự thân của nền kinh tế và là lợi ích phát triển lâu dài của đất nước.
Muốn tham gia vào phân khúc giá trị cao hơn, nền kinh tế Việt Nam phải minh bạch hơn, xanh hơn, số hóa mạnh hơn và có năng lực quản trị tốt hơn. Doanh nghiệp phải làm tốt truy xuất nguồn gốc, nâng tiêu chuẩn sản xuất, bảo vệ bản quyền, quyền sở hữu trí tuệ và từng bước tiếp cận các nguyên tắc mới về dữ liệu, công nghệ và trí tuệ nhân tạo.
Ở đây, cải cách thể chế giữ vai trò rất quan trọng, thể chế phải tạo ra môi trường đủ minh bạch, ổn định và có khả năng thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới. Doanh nghiệp cũng phải thay đổi, từ tư duy làm hàng theo đơn đặt hàng sang tư duy tham gia chuỗi giá trị bằng chất lượng, tiêu chuẩn, công nghệ và thương hiệu.
Điểm khác của giai đoạn này là hội nhập không thể chỉ hiểu là mở cửa thị trường, hội nhập phải đi vào chiều sâu, biến sức ép tiêu chuẩn thành động lực cải cách và nâng cấp. Khi những chuẩn mực cao trở thành năng lực bên trong, Việt Nam sẽ có vị thế tốt hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Biến các FTA thành một không gian chiến lược để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu - Ảnh minh họa
- Từ góc nhìn ngoại giao kinh tế, Việt Nam cần làm gì để các cam kết FTA không dừng lại ở lợi thế thuế quan mà trở thành "đòn bẩy" giúp doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, xây dựng thương hiệu, nâng cao hàm lượng công nghệ và vị thế hàng Việt trên thị trường quốc tế, thưa ông?
Ông Phạm Quang Vinh: Phải nhìn FTA rộng hơn câu chuyện thuế quan. Ưu đãi thuế quan là lợi thế ban đầu, nhưng nếu chỉ dừng ở đó thì chúng ta mới khai thác phần dễ nhất của hội nhập. Điều quan trọng hơn là phải biến các FTA thành một không gian chiến lược để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, nâng chất lượng sản phẩm, nâng hàm lượng công nghệ và từng bước xây dựng thương hiệu hàng Việt trên thị trường quốc tế.
Ở đây có một câu chuyện rất quan trọng, muốn đi vào các phân khúc cao hơn, Việt Nam phải trở thành một mắt xích thực chất trong hệ sinh thái của các doanh nghiệp toàn cầu, nhất là các tập đoàn xuyên quốc gia. Trên thực tế, các tập đoàn này đang dẫn dắt nhiều mạng lưới sản xuất lớn, thiết lập tiêu chuẩn, tổ chức chuỗi cung ứng và quyết định khá nhiều tầng giá trị trong thương mại quốc tế. Nếu doanh nghiệp Việt Nam chỉ đứng ở khâu gia công, lắp ráp đơn giản hoặc cung ứng đầu vào ở tầng thấp thì giá trị thu được sẽ còn hạn chế.
Vì vậy, ngoại giao kinh tế phải làm tốt vai trò kết nối. Kết nối Chính phủ với Chính phủ là cần thiết để tạo khuôn khổ hợp tác ổn định, nhưng quan trọng không kém là kết nối doanh nghiệp với doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp Việt Nam đi vào hệ sinh thái của các tập đoàn lớn, từ điện tử, bán dẫn, công nghiệp hỗ trợ đến nông nghiệp thông minh, logistics, kinh tế số và kinh tế xanh.
Tinh thần này cũng rất đúng với Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Thu hút FDI trong giai đoạn mới phải hướng tới chất lượng, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và khả năng lan tỏa với khu vực kinh tế trong nước. FDI cần trở thành kênh chuyển giao công nghệ, nâng năng lực quản trị, phát triển công nghiệp hỗ trợ và tạo liên kết thực chất giữa doanh nghiệp nước ngoài với doanh nghiệp Việt Nam.
Nói cách khác, FTA mở ra cánh cửa thị trường, FDI tạo ra dòng chảy kết nối, còn năng lực nội sinh của doanh nghiệp Việt Nam mới quyết định chúng ta đứng ở tầng nào trong chuỗi giá trị toàn cầu. Khi ba yếu tố đó gặp nhau, hàng Việt mới có thể đi từ lợi thế thương mại sang lợi thế công nghệ, từ tham gia thị trường sang xây dựng vị thế.
- Xin trân trọng cảm ơn ông!
Các FTA mà Việt Nam tham gia có độ phủ rộng hầu hết các châu lục với gần 60 nền kinh tế có tổng GDP chiếm gần 90% GDP thế giới. Các FTA đã và đang mở rộng cánh cửa thị trường cho hàng xuất khẩu của Việt Nam, là cơ hội để Việt Nam kết nối và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất toàn cầu.




