A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Quy định mới về ngân sách nhà nước chi dự trữ quốc gia

Theo Nghị định, ngân sách nhà nước chi dự trữ quốc gia để mua hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược, bao gồm: Nhập tăng, nhập bù, nhập bổ sung hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược, nhập luân phiên, đổi hàng dự trữ quốc gia, nhập hàng dự trữ quốc gia khi giá cả thị trường, nguồn hàng hóa tăng, giảm đột biến; Chi hoạt động nhập, xuất, mua, bán, bảo quản, bảo vệ, bảo hiểm hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

Quy định mới về ngân sách nhà nước chi dự trữ quốc gia
Chi hoạt động nhập, xuất, mua, bán, bảo quản, bảo vệ, bảo hiểm hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược thực hiện theo quy định của pháp luật. Ảnh: Văn Trường

Bố trí ngân sách nhà nước chi dự trữ quốc gia thế nào?

Theo Nghị định, ngân sách nhà nước chi dự trữ quốc gia để mua hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược, bao gồm: Nhập tăng, nhập bù, nhập bổ sung hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược, nhập luân phiên, đổi hàng dự trữ quốc gia, nhập hàng dự trữ quốc gia khi giá cả thị trường, nguồn hàng hóa tăng, giảm đột biến; Chi hoạt động nhập, xuất, mua, bán, bảo quản, bảo vệ, bảo hiểm hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

Ngân sách nhà nước chi hỗ trợ công tác quản lý, bảo quản hàng dự trữ chiến lược cho tổ chức, doanh nghiệp tham gia dự trữ chiến lược gồm: Chi phí quản lý, bảo vệ cho các bộ phận có liên quan; chi phí bảo quản; chi phí vận hành, bảo dưỡng, kiểm tra và các chi phí khác (nếu có).

Việc xác định chi phí quản lý, bảo quản thực hiện theo cơ chế thỏa thuận, tự nguyện, các quy định của pháp luật có liên quan và thông qua hình thức hợp đồng kinh tế ký giữa tổ chức, doanh nghiệp và cơ quan quản lý hàng dự trữ chiến lược.

Đối với chi phí nhập, xuất, bảo quản hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược, Nghị định nêu rõ: Định mức chi phí nhập, xuất tại cửa kho và chi phí bảo quản hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược phù hợp với quy định về bảo quản hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược; phù hợp với định mức kinh tế - kỹ thuật nhập, xuất, bảo quản hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược và được tính đúng, tính đủ chi phí theo quy định.

Định mức chi phí nhập, xuất tại cửa kho và chi phí bảo quản hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược là căn cứ để lập dự toán ngân sách nhà nước chi hoạt động nhập, xuất, bảo quản hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược hằng năm.

Hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược chưa có định mức chi phí nhập, xuất, bảo quản, bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh quản lý hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược xây dựng dự toán, thực hiện thanh toán, quyết toán theo thực tế phát sinh, bảo đảm hồ sơ chứng từ hợp lệ theo quy định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

Nghị định số 345/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định: Dự trữ quốc gia được hình thành tác nguồn: Ngân sách nhà nước chi dự trữ quốc gia theo quy định tại Điều 20; Ngân sách nhà nước kết hợp với nguồn hợp pháp của tổ chức, doanh nghiệp để thực hiện mua hàng dự trữ chiến lược theo quy định của Chính phủ về dự trữ chiến lược; Nguồn hợp pháp của tổ chức, doanh nghiệp hình thành hàng dự trữ chiến lược để tham gia dự trữ quốc gia theo quy định của Chính phủ về dự trữ chiến lược; Nguồn tự nguyện đóng góp của đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân bằng tiền để mua hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược hoặc bằng vật tư, thiết bị, hàng hóa thuộc Danh mục chi tiết hàng dự trữ quốc gia.

Về cơ chế khoán trong nhập, xuất hàng dự trữ quốc gia, Nghị định quy định, mức khoán chi phí nhập, xuất hàng dự trữ quốc gia tại cửa kho và bảo quản hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược được xác định bằng số lượng hàng nhân (x) với định mức chi phí đã được duyệt.

Tiết kiệm chi phí khoán được xác định bằng mức khoán trừ (-) chi phí thực tế thực hiện đối với từng lần nhập, xuất hàng dự trữ quốc gia tại cửa kho và bảo quản hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược trong năm ngân sách.

Bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh quản lý hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược được sử dụng tiết kiệm chi phí khoán để: Trích quỹ phúc lợi và quỹ khen thưởng; bổ sung thu nhập cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động; Mua sắm, sửa chữa tài sản, trang thiết bị; sửa chữa, cải tạo, nâng cấp, mở rộng, xây dựng mới hạng mục công trình trong các dự án đã đầu tư xây dựng; Ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số phục vụ cho công tác dự trữ quốc gia.

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch UBND cấp tỉnh quản lý hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược được tạm trích tiết kiệm chi phí khoán vào thời điểm cuối quý, việc quyết toán tiết kiệm chi phí khoán được thực hiện cùng với thời điểm tổng hợp và phê duyệt báo cáo quyết toán năm.

Trường hợp mua hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược có tính thời vụ và luân phiên, đổi hàng phải mua hàng mới trước khi xuất bán hàng cũ cần phải tạm ứng ngân sách nhà nước để thực hiện. Bộ, cơ quan ngang bộ quản lý hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược gửi Bộ Tài chính đề nghị tạm ứng ngân sách nhà nước và có trách nhiệm hoàn trả số tiền đã tạm ứng trong năm.

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch UBND cấp tỉnh quản lý hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược chịu trách nhiệm về tổ chức thực hiện dự toán ngân sách nhà nước chi dự trữ quốc gia. Trường hợp đến hết thời gian chỉnh lý quyết toán chưa thực hiện được hoặc chưa chi hết được chuyển nguồn sang năm sau tiếp tục sử dụng theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

Chế độ tài chính về lập dự toán, thanh toán, quyết toán và chế độ kế toán, kiểm toán đối với hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và pháp luật khác có liên quan.

Chế độ báo cáo thực hiện theo quy chế quản lý, khai thác và vận hành Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về dự trữ quốc gia và tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.

Hằng năm, trước ngày 30 tháng 3, các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh quản lý hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược lập báo cáo công tác quản lý, sử dụng hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược của năm trước theo Mẫu số 07 quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này, chịu trách nhiệm về nội dung, số liệu và thời hạn gửi Bộ Tài chính.

Bộ Tài chính chịu trách nhiệm tổ chức thẩm tra, tổng hợp và trình Chính phủ báo cáo Quốc hội trước 30 ngày kỳ họp cuối năm về quản lý, sử dụng dự trữ quốc gia theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Luật Dự trữ quốc gia.

Tiếp nhận, sử dụng nguồn tự nguyện đóng góp

Bên cạnh nội dung trên, Nghị định số 345/2026/NĐ-CP cũng quy định rõ việc tiếp nhận, sử dụng nguồn tự nguyện đóng góp của đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân.

Bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh quản lý hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược thực hiện tiếp nhận nguồn tự nguyện đóng góp của đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân; đồng thời gửi Bộ Tài chính ban hành quyết định.

Trường hợp đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tự nguyện đóng góp bằng tiền dùng để mua tăng hàng dự trữ quốc gia thực hiện mua theo quy định tại Nghị định này.

Trường hợp đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tự nguyện đóng góp là vật tư, thiết bị, hàng hóa được nhập kho để bảo quản, đáp ứng các yêu cầu: Thuộc Danh mục chi tiết hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược; Bảo đảm chất lượng; đáp ứng quy định về bảo quản hàng dự trữ quốc gia.

Trường hợp nguồn tự nguyện đóng góp của đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân để sử dụng thực hiện ngay mục tiêu dự trữ quốc gia, bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh quản lý hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược quyết định việc tiếp nhận và tổ chức thực hiện. Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày hoàn thành nhiệm vụ, bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh gửi Bộ Tài chính để quản lý, theo dõi.

Bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh quản lý hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược thực hiện việc ghi nhận, đánh giá, biểu dương, khen thưởng đối với đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tự nguyện đóng góp cho dự trữ quốc gia.

Bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh quản lý hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện chế độ hạch toán, kế toán, chế độ báo cáo tài chính và báo cáo thống kê dự trữ quốc gia đối với nguồn tự nguyện đóng góp của đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
  • :
  • :