Đại hội Đảng lần thứ II: Đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn
Diễn ra vào đúng những ngày xuân năm 1951, Đại hội lần thứ II của Đảng là ngọn đuốc soi đường cho cách mạng Việt Nam tiến lên giành những thắng lợi mới. Như khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh về kỳ Đại hội này: “Đại hội ta là Đại hội kháng chiến. Nhiệm vụ chính của Đại hội ta là đẩy kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn và xây dựng Đảng Lao động Việt Nam”.
Đại hội giữa núi rừng Việt Bắc
Có lẽ không nhiều vùng đất có được niềm tự hào lớn như Tuyên Quang: có nhiều kỷ niệm gắn bó với Bác Hồ. Trong 9 năm trường kỳ kháng chiến, Bác Hồ đã ở, làm việc tại Tuyên Quang gần 6 năm với nhiều địa điểm khác nhau thuộc các huyện Sơn Dương, Yên Sơn, Chiêm Hóa. Cũng chính tại Tuyên Quang, Bác Hồ cùng Trung ương Đảng đã tổ chức thành công nhiều đại hội, hội nghị, phiên họp quan trọng của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận… quyết định những quyết sách lớn để kiến quốc và đưa kháng chiến thắng lợi hoàn toàn. Trong đó có Đại hội lần thứ II của Đảng.
Với vị trí chiến lược quan trọng trong An toàn khu, xã Kim Bình (Vinh Quang), huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang đã được chọn là nơi diễn ra Đại hội đại biểu lần thứ II Đảng Cộng sản Đông Dương từ ngày 11-19/2/1951. Chuyện kể rằng, trong quá trình chuẩn bị cho Đại hội Đảng lần thứ II, Bác Hồ và Trung ương vừa quan tâm đến nội dung, vừa chuẩn bị nơi tổ chức Đại hội sao cho an toàn, chu đáo. Bác Hồ căn dặn đồng chí kiến trúc sư Hoàng Như Tiếp – người được giao nhiệm vụ thiết kế Hội trường rằng: Trên trời nhìn xuống không thấy gì, dưới đất bốn mặt nhìn vào cũng không thấy gì.
Còn theo hồi ức của đồng chí Tạ Quang Chiến - người cán bộ tháp tùng Bác Hồ tại Đại hội II, trước Ðại hội một tháng, Bác Hồ và Thường vụ Trung ương Ðảng đã tiến hành nhiều cuộc họp quan trọng ở bản Pèo, xã Khuổi Trang, huyện Chợ Ðồn, Bắc Cạn, và tại làng Mạ, xã Kiên Quyết (nay là Kiên Ðài), huyện Chiêm Hóa, Tuyên Quang để chuẩn bị mọi mặt, từ văn kiện, nhân sự đến tổ chức Ðại hội. Hai ngày trước khi khai mạc Ðại hội, Bác Hồ đã đến địa điểm họp. Người trực tiếp quan tâm kiểm tra và tổ chức xem xét bếp ăn đến nhà nghỉ của đại biểu, hội trường, đài tưởng niệm liệt sĩ. Người đã gặp riêng anh chị em phục vụ hậu cần và thăm hỏi gia đình họ. Bác cũng gặp lực lượng vũ trang bảo vệ Ðại hội để căn dặn thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, góp phần thành công cho Ðại hội.

Toàn cảnh Đại hội lần thứ II của Đảng. Ảnh tư liệu: TTXVN
Tham dự Đại hội có 158 đại biểu chính thức và 53 đại biểu dự khuyết, đại diện cho hơn 76 vạn đảng viên thuộc các Đảng bộ Việt Nam, Lào và Campuchia. Khách quốc tế có đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc và đại biểu Đảng Cộng sản Xiêm (Thái Lan). “Chưa bao giờ không khí trong làng lại vui, rộn ràng đến thế, hàng trăm đại biểu từ các nơi tập hợp về đây. Bản làng như vào ngày hội vậy” - một người dân từng là một trong số ít những người dân địa phương phục vụ Đại hội II nhớ lại. Các đại biểu đều phấn khởi được gặp các đồng chí mới, cũ từ khắp các chiến trường Ðông Dương về hội tụ để nhận nhiệm vụ trọng đại của lịch sử, của Ðảng.
Đưa Đảng trở lại hoạt động công khai, đẩy kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn
Sau diễn văn khai mạc của đồng chí Tôn Đức Thắng, Đại hội đã nghiên cứu và thảo luận kỹ các báo cáo trình trước Đại hội: Báo cáo Chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Báo cáo Bàn về cách mạng Việt Nam của Tổng Bí thư Trường Chinh, Báo cáo về Tổ chức và Điều lệ Đảng của đồng chí Lê Văn Lương, cùng nhiều báo cáo bổ sung về Mặt trận dân tộc thống nhất, Chính quyền dân chủ nhân dân, Quân đội nhân dân, kinh tế tài chính và về văn hoá, văn nghệ… và những tham luận khác.
Báo cáo chính trị do Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày tổng kết những kinh nghiệm phong phú của Đảng trong hơn 20 năm lãnh đạo cách mạng, vạch ra những phương hướng, nhiệm vụ đưa cuộc kháng chiến thắng lợi hoàn toàn. Báo cáo khẳng định đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài vì độc lập thống nhất, dân chủ của Đảng là đúng đắn, cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ nhất định thắng lợi.
Báo cáo nêu hai nhiệm vụ chính của Đảng lúc này là: Đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn; tổ chức Đảng Lao động Việt Nam. Về tổ chức Đảng, Báo cáo khẳng định: Chúng ta phải có một Đảng công khai, tổ chức hợp với tình hình thế giới và tình hình trong nước để lãnh đạo toàn dân đấu tranh cho đến thắng lợi. Căn cứ tình hình, nhiệm vụ, tính chất cách mạng, Báo cáo vạch ra 12 chính sách của Đảng trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Toàn bộ đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội của Đảng được Đại hội thảo luận và đúc kết một cách khái quát trong Chính cương Đảng Lao động Việt Nam.
Trước đó, trong “Thư gửi Đại hội trù bị” (tháng 01/1951), Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nêu rõ: “Đại hội ta là Đại hội kháng chiến. Nhiệm vụ chính của Đại hội ta là đẩy kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn và xây dựng Đảng Lao động Việt Nam. Vậy việc thảo luận cần đặt trọng tâm vào hai việc đó”.
Đại hội đã quyết nghị đưa Đảng ra hoạt động công khai với tên gọi mới là Đảng Lao động Việt Nam, thông qua Chính cương, Tuyên ngôn và Điều lệ mới của Đảng. Báo cáo Chính trị do Hồ Chủ tịch trình bày trước Ðại hội khẳng định: “Chúng ta phải có một Ðảng công khai, tổ chức hợp với tình hình thế giới và tình hình trong nước để lãnh đạo toàn dân đấu tranh đến thắng lợi, Ðảng đó lấy tên Ðảng Lao động Việt Nam… Mục đích trước mắt, Ðảng Lao động Việt Nam đoàn kết và lãnh đạo toàn dân kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn, tranh lại thống nhất và độc lập hoàn toàn, lãnh đạo toàn dân thực hiện dân chủ mới, xây dựng điều kiện để tiến lên chủ nghĩa xã hội”.
Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 19 ủy viên chính thức và 10 ủy viên dự khuyết. Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu là Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí Trường Chinh được bầu lại làm Tổng Bí thư. Bộ Chính trị do Trung ương bầu gồm 7 Ủy viên chính thức: đồng chí Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Quốc Việt, một Ủy viên dự khuyết là đồng chí Lê Văn Lương.
Thực tiễn cho thấy, những quyết sách của Đại hội II và những nội dung của Chính cương Đảng Lao động Việt Nam đã là ngọn đuốc soi đường cho dân tộc ta tiến lên giành những thắng lợi to lớn. Như nhìn nhận của Đại tá, PGS, TS. Nguyễn Văn Sáu - Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự: Thời gian lùi xa, nhưng tầm vóc, ý nghĩa của Đại hội lần thứ II vẫn mãi là dấu mốc đặc biệt quan trọng trong chặng đường 95 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Đảng Cộng sản Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Góp phần vào những thành tựu to lớn đó, những quyết sách của Đại hội II có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc.





