Nền móng thể chế quan trọng để kinh tế tư nhân vươn mình trong kỷ nguyên mới
GS. TS. Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hà Nội chia sẻ với Tạp chí Kinh tế - Tài chính về kết quả sau một năm thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW cũng như kiến nghị cơ chế, chính sách để phát triển mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân trong giai đoạn tới.
![]() |
Nghị quyết số 68-NQ/TW đã tạo nền móng thể chế quan trọng để kinh tế tư nhân vươn mình trong kỷ nguyên mới. Ảnh minh họa |
GS. TS. Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hà Nội chia sẻ với Tạp chí Kinh tế - Tài chính về kết quả sau một năm thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW cũng như kiến nghị cơ chế, chính sách để phát triển mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân trong giai đoạn tới.
Đánh thức niềm tin, mở rộng không gian phát triển mới
Phóng viên: Sau một năm triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, ông nhận thấy kết quả nổi bật nhất là gì?
GS. TS. Mạc Quốc Anh: Tôi cho rằng kết quả nổi bật nhất sau một năm triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW là sự thay đổi rõ rệt về nhận thức và tư duy chính sách đối với thành phần kinh tế tư nhân.
Trước đây, khi nói đến kinh tế tư nhân, chúng ta thường nhấn mạnh nhiều đến vai trò là thành phần bổ sung, vai trò tham gia cùng các thành phần kinh tế khác. Nhưng Nghị quyết số 68-NQ/TW đã đặt kinh tế tư nhân vào đúng vị trí là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Đây là thay đổi thực sự về phương pháp tiếp cận để doanh nghiệp phát triển.
Điểm rất quan trọng là Nghị quyết số 68-NQ/TW đã chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo, từ tiền kiểm sang hậu kiểm, từ xin – cho sang phục vụ, đồng hành và bảo vệ quyền tự do kinh doanh hợp pháp của các doanh nghiệp.
Khi Nhà nước khẳng định doanh nghiệp được quyền kinh doanh những gì pháp luật không cấm, đó chính là cam kết chính trị mạnh mẽ đối với cộng đồng doanh nghiệp.
Năm 2025, cả nước có 195.100 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới (tăng 24,1%) và 102.300 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 34,3% so với cùng kỳ năm trước). Trong 4 tháng đầu năm 2026, có 77.800 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới (tăng 50,7%) và có 41.600 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 8,6% so với cùng kỳ năm 2025). |
Phóng viên: Một năm qua, chúng ta ghi nhận số lượng doanh nghiệp thành lập mới tăng mạnh. Đây có phải là kết quả từ tinh thần của Nghị quyết số 68-NQ/TW không thưa ông?
GS. TS. Mạc Quốc Anh: Đúng như vậy, đây là kết quả hết sức tích cực sau một năm thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW. Số lượng doanh nghiệp được thành lập mới và những doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong năm 2025 tăng mạnh thể hiện niềm tin thị trường được củng cố.
Đến nay chúng ta đã có hơn 1,1 triệu doanh nghiệp. Điều đó cho thấy khu vực kinh tế tư nhân đã cảm nhận được tín hiệu về cải cách, họ cảm nhận được không gian phát triển mới và đặc biệt là niềm tin, sức sống mới. Đây là một loại vốn rất đặc biệt của cộng đồng doanh nghiệp bởi khi niềm tin được khơi dậy, dòng vốn, lao động, công nghệ và cả những sáng kiến kinh doanh sẽ chuyển động.
Tuy nhiên, tôi cho rằng điều quan trọng hơn cả không chỉ là tăng số lượng doanh nghiệp mà Nghị quyết số 68-NQ/TW đã tạo ra một tư duy phát triển mới, coi doanh nhân là lực lượng kiến tạo giá trị và doanh nghiệp tư nhân là chủ thể trung tâm của các chương trình đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế, tạo việc làm và quan trọng nhất là đóng góp vào ngân sách và an sinh xã hội.
“Sau một năm thực hiện, kết quả nổi bật của Nghị quyết số 68-NQ/TW là đánh thức niềm tin và mở rộng không gian phát triển mới, đặt nền móng thể chế để kinh tế tư nhân vươn lên mạnh mẽ hơn trong kỷ nguyên mới của Đất nước”, GS. TS. Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hà Nội |
“Nâng chất” hơn 5 triệu hộ kinh doanh và mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp
Phóng viên: Hiện cả nước có khoảng 5,2 triệu hộ kinh doanh, đóng góp khoảng 30% GDP và tạo công ăn việc làm cho hàng triệu lao động. Ông đánh giá như thế nào về tiềm năng của khu vực này để phát triển thành doanh nghiệp, góp phần vào tăng trưởng 2 con số của Đất nước trong giai đoạn tới?
GS. TS. Mạc Quốc Anh: Với hơn 5 triệu hộ kinh doanh, đây là “kho dự trữ” doanh nghiệp rất quan trọng của nền kinh tế.
Nếu chúng ta có chính sách thuế phù hợp, kế toán đơn giản, chuyển đổi số dễ tiếp cận, tín dụng nhỏ linh hoạt và thủ tục đăng ký thuận lợi thì nhiều hộ kinh doanh hoàn toàn có thể nâng cấp thành doanh nghiệp. Khi đó, nền kinh tế không chỉ tăng thêm số lượng doanh nghiệp mà còn tăng tính minh bạch, tăng năng suất và mở rộng nguồn thu ngân sách bền vững.
Tuy nhiên, tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng, sau giai đoạn khơi thông niềm tin, chúng ta phải bước sang giai đoạn nâng chất. Tăng số lượng doanh nghiệp là rất đáng mừng, nhưng doanh nghiệp phải sống được, lớn được, minh bạch được, tham gia được vào chuỗi giá trị trong nước và quốc tế.
Nếu doanh nghiệp thành lập nhiều nhưng rút lui cũng nhiều thì động lực tăng trưởng sẽ chưa bền vững.
Nghị quyết số 68-NQ/TW đã “thấm” vào đời sống kinh tế nhưng nhiệm vụ phía trước là phải biến tinh thần Nghị quyết thành hành động cụ thể, nhất là ở cấp thực thi như sở, ngành, địa phương, Ngân hàng, Thuế, Hải quan và các đơn vị trực tiếp tiếp xúc với doanh nghiệp.
![]() |
| GS. TS. Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hà Nội |
Phóng viên: Nghị quyết số 68-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 cả nước có 2 triệu doanh nghiệp; qua đó, kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 55-58% GDP. Theo ông, làm thế nào để đạt được mục tiêu này?
GS. TS. Mạc Quốc Anh: Mục tiêu đến năm 2030 cả nước có khoảng 2 triệu doanh nghiệp, kinh tế tư nhân đóng góp 55-58% GDP là mục tiêu rất lớn, rất tham vọng nhưng không phải là mục tiêu xa vời nếu chúng ta làm đúng, làm nhanh và làm thực chất.
Hiện cả nước đã có hơn 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động. Nếu muốn đạt khoảng 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030, nghĩa là trong khoảng 5 năm tới chúng ta phải tạo thêm một lực lượng doanh nghiệp mới rất lớn, đồng thời phải giảm số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.
Bài toán ở đây không chỉ là đăng ký thành lập mới mà quan trọng hơn là nâng tỷ lệ sống sót, nâng “sức khỏe” tài chính và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Để mục tiêu này khả thi, tôi cho rằng phải tiếp tục cải cách thể chế mạnh mẽ hơn nữa. Doanh nghiệp cần một môi trường kinh doanh ổn định, minh bạch, chi phí tuân thủ thấp và chính sách có thể dự báo được. Nếu thủ tục hành chính còn phức tạp, điều kiện kinh doanh còn chồng chéo, thanh tra kiểm tra còn gây áp lực không cần thiết thì doanh nghiệp khó lớn.
Thứ hai, phải nâng cấp khu vực hộ kinh doanh bởi đây là nguồn quan trọng để hình thành doanh nghiệp mới. Nhưng muốn hộ kinh doanh chuyển lên doanh nghiệp, chính sách phải khuyến khích chứ đừng làm họ lo sợ. Do đó, cần có lộ trình thuế hợp lý, kế toán đơn giản, hỗ trợ hóa đơn điện tử, tư vấn pháp lý, tín dụng nhỏ và đào tạo quản trị.
Thứ ba, phải giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao năng suất. Bởi nếu có nhiều doanh nghiệp nhưng quy mô nhỏ, công nghệ thấp, quản trị yếu thì đóng góp vào GDP sẽ không tăng tương xứng. Do đó, doanh nghiệp phải được hỗ trợ chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, tham gia chuỗi cung ứng, kết nối với FDI và mở rộng thị trường xuất khẩu.
Tôi tin mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp và đóng góp 55-58% GDP là khả thi nhưng chỉ khả thi khi chúng ta chuyển từ phong trào sang chương trình hành động cụ thể, đo bằng kết quả thực tế của doanh nghiệp.
![]() |
| Nghị quyết số 68-NQ/TW đã đánh thức niềm tin và mở rộng không gian phát triển mới. Ảnh minh họa: GH |
Tháo gỡ 3 “điểm nghẽn” để doanh nghiệp nhỏ lớn mạnh
Phóng viên: Như ông vừa phân tích, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có tiềm lực tài chính hạn chế, quản trị kém, thiếu minh bạch trong khi các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ chiếm hơn 90% tổng số doanh nghiệp…
GS. TS. Mạc Quốc Anh: Thiếu vốn, yếu quản trị và chưa minh bạch về tài chính đúng là ba điểm nghẽn lớn mà hiện nay phần lớn doanh nghiệp Việt Nam, trong đó có doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt là doanh nghiệp siêu nhỏ, đang gặp phải.
Đây là những rào cản khiến doanh nghiệp khó tiếp cận tín dụng, khó tham gia chuỗi cung ứng và khó phát triển bền vững.
Phóng viên: Vậy trước mắt cần phải hỗ trợ các doanh nghiệp này như thế nào để họ lớn mạnh, thưa ông?
GS. TS. Mạc Quốc Anh: Theo tôi, giải pháp cấp bách đầu tiên là chuẩn hóa quản trị tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Rất nhiều doanh nghiệp vẫn quản lý theo kinh nghiệm gia đình, chưa có hệ thống sổ sách, dòng tiền, kế hoạch tài chính, báo cáo thuế và dữ liệu kinh doanh rõ ràng.
Khi doanh nghiệp không minh bạch, ngân hàng không dám cho vay, đối tác lớn không dám ký hợp đồng dài hạn, nhà đầu tư không dám góp vốn.
Vì vậy, cần hỗ trợ các doanh nghiệp này áp dụng kế toán số, hóa đơn điện tử, phần mềm quản trị đơn giản, phù hợp quy mô nhỏ.
Thứ hai, là phải đổi mới cách tiếp cận tín dụng. Doanh nghiệp nhỏ và vừa không thể chỉ vay bằng tài sản thế chấp. Nhà nước cần phát huy hiệu quả hơn các quỹ bảo lãnh tín dụng, quỹ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; ngân hàng cần tăng cho vay dựa trên dòng tiền, đơn hàng, dữ liệu thuế, dữ liệu hóa đơn và lịch sử giao dịch số. Khi dữ liệu doanh nghiệp minh bạch, chi phí vốn sẽ giảm và khả năng tiếp cận vốn sẽ tăng.
Thứ ba, là đào tạo quản trị thực chất. Doanh nghiệp nhỏ không cần những khóa học quá lý thuyết mà cần các chương trình “cầm tay chỉ việc” như quản trị dòng tiền, xây dựng thương hiệu, bán hàng số, pháp lý hợp đồng, tiêu chuẩn chất lượng, quản trị nhân sự, quản trị rủi ro thuế và chuyển đổi số.
Thứ tư, là thúc đẩy liên kết chuỗi. Doanh nghiệp nhỏ không thể phát triển nếu đứng một mình. Cần kết nối họ với doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp FDI, sàn thương mại điện tử, hiệp hội ngành hàng và các chương trình xúc tiến thương mại chuyên ngành.
Tóm lại, muốn doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ lớn lên, phải giúp họ minh bạch hơn, quản trị tốt hơn, tiếp cận vốn tốt hơn và tham gia chuỗi giá trị sâu hơn. Đây là nền tảng để kinh tế tư nhân phát triển bền vững.
![]() |
| GS. TS. Mạc Quốc Anh cho rằng, Nghị quyết số 68-NQ/TW coi doanh nghiệp tư nhân là chủ thể trung tâm của các chương trình đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế. Ảnh minh họa: BCP |
Đến lúc “nâng cấp” hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo
Phóng viên: Nghị quyết số 68-NQ/TW được coi là “bệ phóng chiến lược” thúc đẩy mạnh mẽ tinh thần khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo. Tinh thần này theo cảm nhận của ông trong năm qua như thế nào?
GS. TS. Mạc Quốc Anh: Trong năm qua, có thể nói sự lan tỏa của các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW rất tích cực, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển dựa nhiều hơn vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Trước hết, Nghị quyết số 68-NQ/TW đã đưa ra một thông điệp rất quan trọng: Kinh tế tư nhân không chỉ là lực lượng sản xuất, kinh doanh truyền thống mà còn là chủ thể trung tâm của đổi mới sáng tạo.
Điều này có ý nghĩa đặc biệt với cộng đồng startup bởi khởi nghiệp sáng tạo cần môi trường cởi mở, chấp nhận thử nghiệm, chấp nhận rủi ro và có cơ chế bảo vệ những mô hình kinh doanh mới.
Việt Nam đã có một số doanh nghiệp được xem là “kỳ lân”, thu hút đầu tư mạo hiểm ở mức cao trong khu vực. Bên cạnh đó, năm 2025, thứ hạng hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu của Việt Nam vươn lên đứng thứ 55 thế giới. Những điều này cho thấy chúng ta đã tạo ra được nền tảng đáng kể và quan trọng hơn là tinh thần khởi nghiệp đã lan rộng từ các đô thị lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng sang nhiều địa phương, nhiều trường đại học, viện nghiên cứu và cộng đồng doanh nghiệp trẻ.
Khởi nghiệp sáng tạo không chỉ là câu chuyện gọi vốn hay công nghệ cao mà tôi cho rằng khởi nghiệp sáng tạo cũng có thể bắt đầu từ nông nghiệp thông minh, du lịch xanh, công nghiệp văn hóa, thương mại điện tử, logistics, giáo dục, y tế, dịch vụ tài chính số. Đây là những lĩnh vực mà doanh nghiệp nhỏ và vừa hoàn toàn có thể tham gia.
Tuy nhiên, tôi cũng muốn nhấn mạnh là chính sách hỗ trợ khởi nghiệp phải đi vào thực chất. Startup cần không gian thử nghiệm, vốn mồi, quỹ đầu tư, cố vấn, dữ liệu, hạ tầng số, bảo hộ sở hữu trí tuệ và thị trường đầu ra. Nếu chỉ dừng ở phong trào, cuộc thi hay khẩu hiệu thì khó tạo ra doanh nghiệp đổi mới sáng tạo có sức cạnh tranh.
“Nghị quyết 68 đã mở đúng hướng, nhưng giai đoạn tới cần biến tinh thần đó thành hệ sinh thái thật: có vốn, có công nghệ, có nhân lực, có thị trường và có cơ chế sandbox để doanh nghiệp dám thử, dám làm, dám lớn”, GS. TS. Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hà Nội |
![]() |
| Nghị quyết số 68-NQ/TW được coi là “kim chỉ nam” cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Ảnh: Minh Châu |
Phóng viên: Có thể nói, khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam đã bước sang một giai đoạn mới, vậy theo ông, cần làm gì để “nâng cấp” và nâng cao hơn chất lượng khởi nghiệp sáng tạo trong thời gian tới?
GS. TS. Mạc Quốc Anh: Đúng là hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo của Việt Nam đã bước sang một giai đoạn mới. Nếu giai đoạn đầu là tạo phong trào, tạo nhận thức, hình thành cộng đồng startup thì giai đoạn hiện nay phải là giai đoạn nâng cấp, mở rộng quy mô và nâng chất lượng.
Ở đây tôi nhấn mạnh quan điểm phải phát triển hệ sinh thái theo cả hai hướng. Một là hỗ trợ những cá nhân, nhóm khởi nghiệp rất nhỏ, có thể chỉ bắt đầu với vài nghìn USD nhưng có ý tưởng tốt, có sản phẩm mới, có năng lực công nghệ. Đồng thời, hỗ trợ những doanh nghiệp có khả năng gọi vốn lớn, vươn ra thị trường khu vực và quốc tế. Hai nhóm này khác nhau về quy mô nhưng đều cần chính sách phù hợp.
Phóng viên: Cụ thể là những chính sách gì, thưa ông?
GS. TS. Mạc Quốc Anh: Với nhóm khởi nghiệp nhỏ, điều họ cần hỗ trợ là không gian làm việc, cố vấn, đào tạo kỹ năng, kết nối thị trường, bảo hộ sở hữu trí tuệ và đơn giản các thủ tục.
Với nhóm startup tăng trưởng nhanh, điều họ cần là vốn mạo hiểm, sandbox, chính sách thuế, dữ liệu mở, nhân lực chất lượng cao và khả năng mở rộng ra thị trường quốc tế.
Ở đây, vai trò của chính quyền địa phương rất quan trọng bởi khởi nghiệp sáng tạo không thể chỉ trông chờ vào Trung ương. Do đó, mỗi địa phương cần có không gian đổi mới sáng tạo, trung tâm hỗ trợ startup, chương trình kết nối trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp – nhà đầu tư.
Đơn cử như Hà Nội, với lợi thế là Thủ đô, trung tâm giáo dục, khoa học, tài chính, văn hóa và thị trường lớn của cả nước, càng phải đi đầu trong việc hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo chất lượng cao.
“Khởi nghiệp sáng tạo không chỉ cần tinh thần dám làm mà cần thể chế dám mở đường. Nếu Nhà nước có chính sách thuế, đất đai, hạ tầng, vốn, dữ liệu và sandbox phù hợp, thì khởi nghiệp sáng tạo sẽ không chỉ tạo ra doanh nghiệp mới, mà còn tạo ra động lực tăng trưởng mới cho cả nền kinh tế”, GS. TS. Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hà Nội |
![]() |
Nghị quyết số 68-NQ/TW đã khơi thông niềm tin, tạo xung lực mới cho kinh tế tư nhân. Ảnh: Phan Hà |
Nhà nước kiến tạo luật chơi, doanh nghiệp tham gia “sân chơi” lớn
Phóng viên: Thời gian qua, một số doanh nghiệp tư nhân đã tham gia và đảm nhiệm nhiều dự án quy mô lớn. Điều này có ý nghĩa như thế nào đối với hiệu quả thực hiện dự án cũng như việc hình thành các doanh nghiệp tầm cỡ, có đủ sức cạnh tranh quốc tế, thưa ông?
GS. TS. Mạc Quốc Anh: Trước đây, nhiều dự án quy mô lớn, đặc biệt trong lĩnh vực hạ tầng, năng lượng, đô thị, logistics, công nghiệp nền tảng thường chủ yếu do các doanh nghiệp khu vực nhà nước đảm nhiệm. Nhưng trong bối cảnh hiện nay, nếu chỉ dựa vào nguồn lực nhà nước thì không đủ để đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, hiện đại và cạnh tranh quốc tế.
Việc mở rộng không gian cho doanh nghiệp tư nhân tham gia cổ phần, đầu tư, quản lý, vận hành các dự án lớn giúp huy động nguồn lực xã hội rất lớn. Khu vực tư nhân đang nắm giữ nguồn vốn, tài sản, công nghệ, năng lực quản trị và mạng lưới thị trường ngày càng mạnh. Nếu được tham gia bình đẳng, minh bạch, đúng luật, khu vực này có thể bổ sung nguồn lực rất quan trọng cho đầu tư phát triển.
Thứ hai, sự tham gia của doanh nghiệp tư nhân giúp nâng cao hiệu quả quản trị dự án. Doanh nghiệp tư nhân thường có áp lực rất lớn về tiến độ, chi phí, chất lượng, hiệu quả vốn và thị trường. Khi đưa tư duy quản trị của họ vào các dự án lớn có thể giảm lãng phí, tăng tính cạnh tranh và cải thiện chất lượng dịch vụ.
Ngoài ra, việc cho phép các doanh nghiệp tư nhân tham gia thực hiện các dự án lớn cũng là cách thức hình thành những doanh nghiệp tư nhân lớn, có năng lực dẫn dắt chuỗi giá trị. Một nền kinh tế muốn mạnh cần có doanh nghiệp nhỏ và vừa năng động và doanh nghiệp tư nhân lớn, đủ sức đầu tư công nghệ, hạ tầng, thương hiệu và vươn ra quốc tế.
Phóng viên: Ở đây cần có cơ chế công khai, minh bạch và kiểm tra, giám sát như thế nào, thưa ông?
GS. TS. Mạc Quốc Anh: Tất nhiên là khi mở rộng không gian cho tư nhân phải đi kèm với nguyên tắc minh bạch, cạnh tranh công bằng, phòng chống lợi ích nhóm và bảo vệ lợi ích công cộng.
Bởi những dự án lớn thường liên quan đến đất đai, tài nguyên, hạ tầng, dịch vụ công và cần phải có cơ chế đấu thầu công khai, giám sát chặt chẽ và phân định rõ trách nhiệm.
Nếu làm tốt, đây sẽ là bước chuyển rất quan trọng. Trong đó, Nhà nước không làm thay doanh nghiệp mà là chủ thể kiến tạo luật chơi, doanh nghiệp không chỉ làm phần nhỏ mà được tham gia vào những không gian phát triển lớn của quốc gia.
![]() |
Nghị quyết số 68-NQ/TW mở đường cho các doanh nghiệp tham gia “sân chơi” lớn. Ảnh minh họa: Hòa Phát |
Xây dựng đội ngũ doanh nhân Việt Nam bản lĩnh, có đạo đức kinh doanh và khát vọng vươn lên
Phóng viên: Trong thời gian tới, để kinh tế tư nhân thực sự trở thành động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu tăng trưởng 2 con số, theo ông, cần có giải pháp, cơ chế, chính sách gì?
GS. TS. Mạc Quốc Anh: Để kinh tế tư nhân thực sự trở thành động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế theo tinh thần bảo vệ quyền tự do kinh doanh hợp pháp. Cần rà soát, cắt giảm mọi rào cản không cần thiết; xử lý những điều kiện kinh doanh chồng chéo, thủ tục kéo dài, cách hiểu pháp luật không thống nhất.
Doanh nghiệp cần một môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định, công bằng và có thể dự báo được.
Tiếp theo là cải cách mạnh chính sách thuế, phí, tín dụng và tiếp cận vốn. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, dòng tiền là sự sống. Cần có chính sách thuế nuôi dưỡng doanh nghiệp, phát huy quỹ bảo lãnh tín dụng, mở rộng cho vay dựa trên dữ liệu, đơn hàng, dòng tiền, hóa đơn điện tử, thay vì chỉ dựa vào tài sản thế chấp.
Bên cạnh đó, cần hỗ trợ doanh nghiệp nâng cấp quản trị, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Nếu doanh nghiệp tư nhân chỉ tăng về số lượng mà không tăng năng suất thì khó đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Do đó, phải hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ, quản trị tài chính, quản trị nhân sự, thương hiệu, tiêu chuẩn chất lượng, ESG và thương mại điện tử.
Ngoài ra, cần thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp nhỏ và vừa với doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp FDI và thị trường quốc tế. Doanh nghiệp nhỏ không thể lớn nếu đứng riêng lẻ. Cần hình thành các cụm liên kết ngành, chuỗi cung ứng nội địa, trung tâm hỗ trợ xuất khẩu, chương trình xúc tiến thương mại theo ngành hàng, không làm chung chung.
Nghị quyết số 68-NQ/TW không chỉ nói về doanh nghiệp mà còn nói về tinh thần làm giàu chính đáng, phụng sự đất nước, thượng tôn pháp luật và trách nhiệm xã hội. Do đó, cần xây dựng đội ngũ doanh nhân Việt Nam có bản lĩnh, đạo đức kinh doanh và khát vọng vươn lên.
Tôi cho rằng điều quan trọng nhất hiện nay là biến tinh thần của Nghị quyết số 68-NQ/TW thành kết quả cụ thể mà doanh nghiệp cảm nhận được hàng ngày thông qua các tiêu chí: thủ tục nhanh hơn, chi phí thấp hơn, vốn dễ tiếp cận hơn, chính sách minh bạch hơn, cán bộ đồng hành hơn và thị trường rộng mở hơn.
Khi doanh nghiệp tư nhân được trao quyền, được bảo vệ và được kiến tạo môi trường phát triển, họ sẽ dám đầu tư, dám đổi mới, dám cạnh tranh, dám vươn ra thế giới. Đó chính là nền tảng để kinh tế tư nhân đóng góp xứng đáng vào mục tiêu tăng trưởng 2 con số và khát vọng Việt Nam hùng cường trong kỷ nguyên mới.
Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn ông!











