A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Để văn hóa thành động lực phát triển bền vững: Siết kỷ luật thực thi, khơi thông sức sáng tạo

Văn hóa được xác định là nguồn lực nội sinh, động lực phát triển và sức mạnh mềm quốc gia; khung chính sách cũng ngày càng đầy đủ, nhưng từ mục tiêu đến kết quả thực tế vẫn còn khoảng cách đáng kể. Bài toán đặt ra lúc này là nâng cao năng lực tổ chức thực hiện để chính sách thực sự đi vào cuộc sống.

Bước tiến về thể chế

Trong một thời gian dài, khi đề cập đến vai trò của văn hóa đối với sự phát triển, chúng ta thường nhấn mạnh chức năng bồi đắp đời sống tinh thần, bảo tồn bản sắc và xây dựng con người. Đây là những giá trị nền tảng, không thể thay thế, tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, tư duy về văn hóa đang có bước chuyển quan trọng: Văn hóa không chỉ là lĩnh vực cần được đầu tư, bảo tồn và thụ hưởng, mà còn là nguồn lực nội sinh, động lực tăng trưởng và gia tăng sức mạnh mềm quốc gia.

Tinh thần này được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Nghị quyết xác định phát triển văn hóa và con người là nền tảng, động lực, trụ cột và hệ điều tiết cho phát triển bền vững đất nước; đồng thời yêu cầu văn hóa phải đi trước soi đường, thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ hoạch định chính sách đến tổ chức thực hiện, từ đời sống thực tiễn đến không gian số.

Nếu Nghị quyết 80 xác lập tầm nhìn và định hướng chiến lược dài hạn thì Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội đã cụ thể hóa chủ trương này bằng những cơ chế, chính sách thiết thực, tạo thêm điều kiện để người dân tiếp cận, tham gia và thụ hưởng các hoạt động văn hóa. Nghị quyết quy định ngày 24/11 hằng năm là Ngày Văn hóa Việt Nam, người lao động được nghỉ làm việc và hưởng nguyên lương; đồng thời quy định Nhà nước bảo đảm chi cho văn hóa hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách và khuyến khích huy động các nguồn lực xã hội.

Rõ ràng, từ định hướng chiến lược đến các cơ chế cụ thể, hệ thống chính sách về văn hóa đang từng bước được bổ sung, hoàn thiện ngày càng toàn diện hơn. Thế nhưng, việc ban hành chính sách mới chỉ là bước khởi đầu. Trên diễn đàn Quốc hội, các đại biểu ghi nhận năm 2026 có nhiều chuyển biến trong thể chế hóa chủ trương phát triển văn hóa; một số chính sách về nghệ thuật biểu diễn, bản quyền và phát huy giá trị di sản đã được ban hành. Dẫu vậy, chất lượng thể chế không chỉ được đo bằng số lượng văn bản mà quan trọng hơn là mức độ các chủ thể có thể tiếp cận và vận dụng chính sách vào thực tiễn.

1-9378.jpg

Lễ Ban sóc của triều Nguyễn được tái hiện tại không gian Đại nội Huế. Ảnh: Lê Hoài Nhân.

Những điểm nghẽn cần tháo gỡ

Việt Nam có nhiều lợi thế để phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa. Hiện cả nước có trên 40.000 di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh đã được kiểm kê, gần để phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa. Hiện cả nước có trên 40.000 di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh đã được kiểm kê, gần 2.000 làng nghề truyền thống. Cùng với đó là lực lượng lao động trẻ, đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức, nhà thiết kế, nhà sản xuất nội dung số và một thị trường có nhu cầu ngày càng lớn đối với các sản phẩm văn hóa, giải trí.

Tuy nhiên, tiềm năng không tự chuyển hóa thành giá trị. Thực tế cho thấy, quy mô và sức cạnh tranh của các ngành công nghiệp văn hóa vẫn chưa tương xứng với lợi thế hiện có. Chuỗi liên kết từ sáng tạo, sản xuất đến phân phối và tiêu dùng còn hạn chế; việc khai thác bản quyền, tài sản trí tuệ, phát triển thương hiệu và mở rộng thị trường chưa đạt yêu cầu; nguồn nhân lực có khả năng kết hợp giữa văn hóa, nghệ thuật với công nghệ, kinh tế và quản trị vẫn còn thiếu. Những hạn chế này không chỉ xuất phát từ năng lực của từng chủ thể mà còn liên quan trực tiếp đến môi trường thể chế và khả năng tổ chức thực hiện chính sách.

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, Đại biểu Quốc hội, doanh nghiệp sẽ khó đầu tư dài hạn nếu quyền sở hữu trí tuệ chưa được bảo vệ hiệu quả, thủ tục tiếp cận mặt bằng và tài sản công còn phức tạp, cơ chế hợp tác công - tư thiếu rõ ràng.

“Doanh nghiệp không thể chỉ được vận động bằng những lời kêu gọi chung chung. Điều họ cần là môi trường đầu tư ổn định, minh bạch, có khả năng dự báo, cùng cơ chế bảo vệ quyền lợi hợp pháp để yên tâm đầu tư dài hạn”, ông Sơn nhấn mạnh.

Khoảng cách giữa chủ trương và thực tiễn còn thể hiện rõ qua tình trạng giải ngân nguồn lực dành cho văn hóa. Theo báo cáo của Quốc hội, trong 9 tháng năm 2026, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch mới đạt 34,4%, trong khi bình quân cả nước là 62,9%. Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa được bố trí 7.600 tỷ đồng trong năm 2026, nhưng đến ngày 11/6 mới được giao vốn và đến ngày 30/9 mới giải ngân 178 triệu đồng.

Không chỉ gặp khó khăn trong tổ chức thực hiện, công tác đánh giá kết quả phát triển văn hóa cũng chưa có hệ thống chỉ tiêu đủ rõ. Trong 14 chỉ tiêu thuộc nhóm văn hóa, xã hội của dự kiến kế hoạch năm 2027 chưa có chỉ tiêu trực tiếp về văn hóa. Chỉ tiêu tăng trưởng ngành công nghiệp văn hóa khoảng 10% lại được xếp trong nhóm kinh tế nhưng chưa có phương pháp tính theo doanh thu, theo giá trị sản xuất hay giá trị gia tăng; tính theo giá hiện hành hay giá so sánh. Từ thực tế này, ông Bùi Hoài Sơn đặt vấn đề: “Nếu chúng ta coi văn hóa là nền tảng và động lực phát triển, thì bằng tiêu chí nào Quốc hội và nhân dân có thể theo dõi, đánh giá việc hiện thực hóa quan điểm ấy?”.

3.jpg

“Ông đồ” viết thư pháp tại Di tích quốc gia đặc biệt Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Ảnh: Thế Vũ.

Thống nhất nhận thức và xây dựng kỷ luật thực thi trong lĩnh vực văn hóa

Từ những vướng mắc trên, có thể thấy, bên cạnh việc tiếp tục hoàn thiện thể chế, yêu cầu cấp thiết hiện nay là chuyển trọng tâm sang xây dựng kỷ luật thực thi và nâng cao hiệu quả tổ chức triển khai chính sách.

Tại Hội thảo khoa học cấp quốc gia “Phát huy giá trị văn hóa Việt Nam thành một động lực quan trọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” diễn ra hồi tháng 10/2026, Thượng tướng Lê Quốc Hùng, Thứ trưởng Bộ Công an nhấn mạnh rằng, một ý tưởng hay, một chính sách tốt chỉ thực sự có ý nghĩa khi được tổ chức thực hiện hiệu quả trong thực tiễn. Ông cho rằng cần thống nhất nhận thức và xây dựng kỷ luật thực thi trong lĩnh vực văn hóa, đồng thời nhanh chóng chuyển hóa kết quả nghiên cứu khoa học thành kiến nghị chính sách và giải pháp có giá trị thực tiễn.

Để tháo gỡ những nút thắt, Đại biểu Quốc hội Bùi Hoài Sơn kiến nghị Chính phủ khẩn trương rà soát, hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu văn hóa trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Việc sớm ban hành Bộ chỉ số văn hóa quốc gia, Bộ chỉ tiêu thống kê các ngành công nghiệp văn hóa và đưa Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn hóa, nghệ thuật vào vận hành sẽ tạo lập hệ thống tiêu chí minh bạch, có số liệu gốc và có thể kiểm chứng. Bên cạnh đó, cần rà soát toàn bộ quy trình triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa, từ giao vốn, ban hành văn bản hướng dẫn đến tổ chức thực hiện tại địa phương; làm rõ trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, không để những vướng mắc về thủ tục trở thành lý do kéo dài trách nhiệm thực thi.

Theo Đại biểu Bùi Hoài Sơn, muốn văn hóa thực sự trở thành động lực phát triển, năm 2027 cần tạo chuyển biến rõ rệt từ nhận thức sang hành động, từ bố trí nguồn lực sang hiệu quả sử dụng nguồn lực, từ ban hành chính sách sang kết quả mà người dân và doanh nghiệp có thể cảm nhận. Đây là cách thiết thực để đưa tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, để văn hóa không chỉ đồng hành mà thực sự góp phần dẫn dắt sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
  • :
  • :