Tín dụng vẫn vượt tốc huy động, mở thêm “đường vốn” cho tăng trưởng
Tăng trưởng tín dụng đang duy trì ở mức cao trong khi nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, đầu tư hạ tầng và các dự án lớn dự kiến tiếp tục tăng mạnh trong những tháng cuối năm.
![]() |
| Nguồn: ACBS |
Vốn dài hạn chưa bắt kịp nhịp tăng trưởng
Tăng trưởng tín dụng đang duy trì ở mức cao trong khi nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, đầu tư hạ tầng và các dự án lớn dự kiến tiếp tục tăng mạnh trong những tháng cuối năm.
Theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội mới đây của Bộ Tài chính, đến ngày 22/8/2026, dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế tăng 9,71% so với cuối năm 2025, trong khi huy động vốn tăng 7,97%. Nghĩa là tốc độ tăng của tín dụng vẫn cao hơn 1,74% so với huy động, nên theo tính toán, con số chênh lệch này có thể lên tới trên 2 triệu tỷ đồng.
Dù nếu xét riêng bằng đồng Việt Nam, tín dụng tăng 8,38%, thấp hơn mức tăng 8,77% của huy động vốn, thì sự chênh lệch về kỳ hạn nguồn vốn vẫn là vấn đề đáng chú ý khi nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế ở mức cao.
Báo cáo vĩ mô tháng 8 của ACBS cũng nhận định, thanh khoản ngắn hạn đã dồi dào hơn, song chi phí vốn trung - dài hạn vẫn ở mức cao, trở thành rào cản đối với khả năng giảm mặt bằng lãi suất cho vay trên diện rộng. Trong tháng 8, 8 ngân hàng thương mại đã phát hành khoảng 23.200 tỷ đồng trái phiếu với lãi suất danh nghĩa bình quân gia quyền gần 8,9%/năm, cho thấy chi phí tạo lập nguồn vốn dài hạn vẫn không thấp.
Sức ép này càng đáng chú ý khi nhu cầu vốn cho các dự án lớn đang tăng. Theo Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước đã tiếp nhận kiến nghị về cơ chế tín dụng đối với khoảng 35 dự án quy mô lớn, với tổng nhu cầu vay khoảng 1,7 triệu tỷ đồng.
Như vậy, nếu phần lớn nhu cầu vốn trung và dài hạn tiếp tục dựa vào tín dụng ngân hàng, áp lực huy động và chi phí vốn của hệ thống sẽ khó giảm nhanh.
Thời gian qua, một số chính sách đã được điều chỉnh để tăng dư địa cho các tổ chức tín dụng, trong đó tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung, dài hạn được nâng từ 30% lên 40%; các công cụ nghiệp vụ thị trường mở và tiền gửi Kho bạc Nhà nước cũng được sử dụng linh hoạt hơn để hỗ trợ thanh khoản.
Tăng hiệu quả phân bổ vốn cho nền kinh tế
GS. Ngô Thắng Lợi, giảng viên cao cấp (Đại học Kinh tế Quốc dân) chỉ ra, số doanh nghiệp trên 1 vạn dân của Việt Nam mới xấp xỉ 100, doanh nghiệp siêu nhỏ chiếm tới 80% tổng số doanh nghiệp; năng lực ứng dụng khoa học công nghệ và hiệu quả kinh tế của khu vực doanh nghiệp tư nhân vẫn cần tiếp tục được cải thiện. Vì vậy, nhóm nghiên cứu của Đại học Kinh tế Quốc dân đề xuất, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa cần được thiết kế theo từng giai đoạn phát triển. Với doanh nghiệp đang tăng trưởng, hỗ trợ cần tập trung vào vốn dài hạn, tiêu chuẩn, quản trị và kết nối đơn hàng; đồng thời phát triển tín dụng dựa trên hợp đồng, hóa đơn và dòng tiền thay vì chỉ dựa vào tài sản thế chấp. |
Những điều chỉnh về cơ chế thời gian qua đang tạo thêm dư địa để hệ thống ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế. Tuy nhiên, với nhu cầu đầu tư ngày càng lớn và thời gian thu hồi vốn khác nhau giữa các lĩnh vực, yêu cầu đặt ra không chỉ là tăng quy mô nguồn vốn mà còn phải nâng cao hiệu quả phân bổ và phát huy tốt hơn vai trò của từng kênh dẫn vốn.
Trong bản kiến nghị chính sách quý III/2026 vừa được Đại học Kinh tế Quốc dân công bố, các chuyên gia cho rằng, một trong những hạn chế hiện nay là tài chính dài hạn và tín dụng dựa trên dòng tiền còn phân tán. Đồng thời, thủ tục phá sản và tái phân bổ nguồn lực chưa thuận lợi khiến vốn và tài sản bị giữ trong những hoạt động kém hiệu quả.
Do đó, thị trường phải phát huy vai trò phân bổ nguồn lực và sàng lọc hiệu quả, trong khi Nhà nước tập trung kiến tạo luật chơi, duy trì cạnh tranh công bằng, đầu tư hạ tầng nền tảng…
Tinh thần này cũng thể hiện khá rõ trong chỉ đạo điều hành mới nhất của Chính phủ. Tại Nghị quyết số 262/NQ-CP ngày 5/9/2026 về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 8, Chính phủ yêu cầu tiếp tục phối hợp chặt chẽ, hài hòa giữa chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ và các chính sách kinh tế vĩ mô khác, vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.
Trong đó, Bộ Tài chính được giao tiếp tục thực hiện các giải pháp phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu doanh nghiệp và triển khai Đề án cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam.
Cùng với đó, chính sách tài khóa tiếp tục phát huy vai trò hỗ trợ tăng trưởng thông qua đầu tư công và các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp. Tại phiên họp Chính phủ ngày 3/9, Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu tiếp tục triển khai hiệu quả các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí; đồng thời đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công, bảo đảm hoàn thành 100% kế hoạch được giao.
Theo các chuyên gia, việc đẩy nhanh giải ngân đầu tư công không những đưa nguồn vốn ngân sách trực tiếp vào nền kinh tế, mà còn góp phần tạo thêm khối lượng công việc, đơn hàng và dòng tiền cho doanh nghiệp tham gia các dự án. Trong khi đó, các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí giúp doanh nghiệp cải thiện dòng tiền và củng cố nguồn lực cho sản xuất kinh doanh.
Ở phía chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục được giao điều hành tăng trưởng tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế; hướng tín dụng vào sản xuất kinh doanh, xuất khẩu, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp, đổi mới sáng tạo, nhà ở xã hội, hạ tầng thiết yếu và các động lực tăng trưởng, đồng thời kiểm soát chặt tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.
Như vậy, bài toán vốn cho tăng trưởng cần hướng đến việc hình thành cơ cấu nguồn vốn phù hợp, tạo được sự phối hợp giữa các nguồn lực. Tín dụng ngân hàng tiếp tục đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế; thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp và các kênh tài chính khác mở rộng thêm lựa chọn huy động vốn; trong khi đầu tư công và các công cụ tài khóa tiếp tục phát huy vai trò hỗ trợ và dẫn dắt.
Khi các kênh vốn được vận hành đồng bộ, những “đường vốn” cho tăng trưởng sẽ được mở rộng cả về quy mô và kỳ hạn, tạo thêm dư địa để chính sách tài khóa và tiền tệ cùng hỗ trợ tăng trưởng, đồng thời bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô.






