Nguồn lực tài chính cho chuyển đổi xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Đây là nội dung của Hội thảo khoa học “Nguồn lực tài chính cho chuyển đổi xanh và phát triển bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long” vừa được Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (UEH) tổ chức tại Vĩnh Long. Hội thảo thu sự quan tâm của đông đảo diễn giả và doanh nghiệp.
![]() |
Giảm phát thải trong sản xuất lúa không còn là lựa chọn mang tính khuyến khích |
Chuyển đổi xanh góp phần nâng vị thế nông sản vùng
Đây là nội dung của Hội thảo khoa học “Nguồn lực tài chính cho chuyển đổi xanh và phát triển bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long” vừa được Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (UEH) tổ chức tại Vĩnh Long. Hội thảo thu sự quan tâm của đông đảo diễn giả và doanh nghiệp.
![]() |
| Sản phẩm lúa gạo được tạo ra từ Dự án GIC (đổi mới sáng tạo xanh) của một số hợp tác xã và doanh nghiệp ở ĐBSCL đang được thị trường quốc tế ưa chuộng. Ảnh: VGP |
PGS.TS Phan Thị Bích Nguyệt, Chủ tịch Ban Điều hành Alumni (cựu sinh viên) Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho biết, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đóng góp khoảng 50% sản lượng lúa, gần 95% lượng gạo xuất khẩu, 65-70% sản lượng thủy sản và gần 70% sản lượng trái cây cả nước.
Yêu cầu ngày càng cao của thị trường về giảm phát thải và trách nhiệm môi trường, vừa tạo sức ép, vừa mở ra cơ hội để vùng nâng giá trị nông sản và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Việc sản xuất hữu cơ, ứng dụng công nghệ cao, quản lý vùng trồng và truy xuất nguồn gốc ngày càng được chú trọng.
Theo PGS.TS Phan Thị Bích Nguyệt, đầu tư cho chuyển đổi xanh ĐBSCL không chỉ dừng ở thiết bị và công nghệ, mà còn bao gồm chi phí cho dữ liệu, truy xuất nguồn gốc, chứng nhận, đào tạo, tổ chức lại sản xuất, liên kết chuỗi, xử lý phụ phẩm và bảo đảm sinh kế trong giai đoạn đầu chuyển đổi.
Vì vậy, những vấn đề như chi phí chuyển đổi xanh, khả năng hấp thụ vốn, và rộng hơn là khả năng kết nối các nguồn lực ở quy mô vùng là rất cần thiết.
TS. Văn Hữu Huệ, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Vĩnh Long cho rằng, chuyển đổi xanh trong nông nghiệp cần được đặt đồng thời trên 3 khía cạnh: hiệu quả kinh tế, bền vững môi trường và công bằng trong tham gia, thụ hưởng thành quả chuyển đổi.
Vì vậy, cần ưu tiên cơ chế chia sẻ chi phí, lấy nông hộ và hợp tác xã làm trung tâm tổ chức sản xuất, doanh nghiệp dẫn dắt chuỗi làm động lực thị trường, dữ liệu và tiêu chuẩn làm nền tảng quản trị, tài chính xanh làm công cụ huy động nguồn lực.
“Khi chi phí và rủi ro được phân bổ hợp lý, chuyển đổi xanh sẽ góp phần nâng chất lượng tăng trưởng nông nghiệp, cải thiện sinh kế và nâng vị thế nông sản ĐBSCL”, TS. Văn Hữu Huệ cho biết.
Theo TS. Phạm Minh Trí, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực 14, để khơi thông dòng vốn tín dụng xanh phục vụ phát triển bền vững, cần tiếp tục hoàn thiện khung quản lý rủi ro môi trường và xã hội, đồng thời thống nhất danh mục phân loại xanh. Đây là cơ sở để tổ chức tín dụng thiết kế sản phẩm phù hợp hơn với doanh nghiệp nhỏ và vừa, giảm rủi ro trong thẩm định và mở rộng khả năng tiếp cận vốn.
Ở cấp địa phương, việc xây dựng nền tảng dữ liệu xanh, kết nối thông tin về doanh nghiệp, hợp tác xã và dự án đáp ứng tiêu chuẩn môi trường cũng được xem là cần thiết. Khi dữ liệu được chuẩn hóa, chia sẻ, tổ chức tín dụng có thêm cơ sở thẩm định, giảm bất cân xứng thông tin và rút ngắn quá trình tiếp cận vốn.
Về phía doanh nghiệp, cần chủ động số hóa quản trị tài chính, minh bạch dòng tiền, hoàn thiện hồ sơ môi trường và từng bước áp dụng tiêu chuẩn phù hợp. Xa hơn, chuyển đổi xanh cần được nhìn như quá trình tái cấu trúc cách phân bổ nguồn lực chứ không chỉ là đầu tư thêm cho những “mô hình xanh”.
“Cơ chế tài chính phù hợp sẽ là một trong những điều kiện quan trọng để yêu cầu chuyển đổi xanh trở thành động lực nâng cao năng lực cạnh tranh. Quan trọng hơn, quá trình ấy cần bảo đảm chi phí, rủi ro và lợi ích được chia sẻ hợp lý, để người nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ không đứng ngoài tiến trình chuyển đổi, mà trở thành những chủ thể trực tiếp tham gia”, TS.Phạm Minh Trí chia sẻ.
Giải bài toán tài chính cho chuyển đổi xanh
Với góc nhìn về tài chính và doanh nghiệp, TS. Nguyễn Thị Thý Liễu, Giám đốc UEH Mekong cho rằng, nguồn lực công và các nguồn tài trợ phát triển có thể đóng vai trò xúc tác, góp phần cải thiện mức độ khả thi của dự án và tạo điều kiện thu hút thêm nguồn vốn tư nhân vào các chuỗi giá trị nông - thủy sản của vùng ĐBSCL.
![]() |
| Nhiều doanh nghiệp ở ĐBSCL đã và đang đẩy mạnh áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên nguồn lực tài chính vẫn là bài toán nan giải. Ảnh: Trần Tuấn |
Trong khi đó, GS.TS. Nguyễn Đông Phong, Chủ tịch Hội đồng Chiến lược phát triển UEH lại cho rằng: “Nguồn lực tài chính cho chuyển đổi xanh của ĐBSCL không chỉ là bài toán có bao nhiêu vốn, mà là bài toán làm thế nào để vốn được chia sẻ, tiếp cận, hấp thụ và kết nối hiệu quả”.
Từ đó, chính sách tài chính xanh cần đồng thời giải quyết bài toán về cung vốn, chất lượng dự án, dữ liệu, năng lực quản trị và cơ chế chia sẻ rủi ro giữa các bên liên quan.
Theo GS.TS. Nguyễn Đông Phong, nội dung chính của các tham luận tại Hội thảo có thể khái quát thành một chuỗi logic xuyên suốt: Chia sẻ hợp lý chi phí và rủi ro đến nâng cao năng lực tiếp cận, hấp thụ vốn đến kết nối các nguồn lực tài chính, từ đó hình thành hệ sinh thái tài chính cho chuyển đổi xanh ở cấp vùng.
Hệ sinh thái không chỉ gồm ngân hàng, tín dụng, mà cần sự tham gia đồng bộ của tài chính công, thị trường vốn, Fintech, tài chính khí hậu quốc tế, ESG, dữ liệu xanh và thị trường carbon.
Đồng quan điểm, PGS.TS Bùi Quang Hùng, Giám đốc Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho biết, chuyển đổi xanh không đơn thuần là cần thêm vốn, quan trọng hơn là xác định vốn phải đi đâu, đến với ai, được phân bổ như thế nào, ai chia sẻ rủi ro, ai chịu chi phí ban đầu và làm thế nào đo lường tác động của nguồn vốn đối với môi trường, xã hội. Quá trình này cần sự tham gia đồng bộ của Nhà nước, hệ thống tài chính, doanh nghiệp, người sản xuất và cơ sở đào tạo.
Theo PGS.TS Bùi Quang Hùng, Nhà nước cần tập trung vào những nền tảng mà từng nông hộ hay doanh nghiệp khó tự đầu tư như cơ sở dữ liệu, hạ tầng, đào tạo, khuyến nông, tiêu chuẩn và hỗ trợ tạo năng lực ban đầu.
Doanh nghiệp dẫn dắt chuỗi có thể cùng đầu tư vào vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc, kiểm soát chất lượng và tiêu thụ sản phẩm; hợp tác xã trở thành đầu mối tổ chức sản xuất, quản lý vùng nguyên liệu và kết nối nông hộ với doanh nghiệp, ngân hàng.
“Sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương và kiến thức tài chính số là những yếu tố quan trọng giúp tháo gỡ rào cản thông tin trong tiếp cận vốn. Điều này cũng đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải nâng mức độ minh bạch và chứng minh thực chất yếu tố “xanh” trong phương án đầu tư”, PGS.TS Bùi Quang Hùng chia sẻ.








