A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tạo thuận lợi tiếp cận vốn, thêm động lực để doanh nghiệp nhỏ và vừa "lớn lên"

Sáng ngày 28/8, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nhiều ý kiến đánh giá dự thảo luật đang đặt ra hướng tiếp cận mới, song cần tiếp tục hoàn thiện để chính sách thực sự đến được với doanh nghiệp, nhất là trong tiếp cận vốn, đất đai, hạ tầng, khoa học công nghệ và chuyển đổi số.

Tạo thuận lợi tiếp cận vốn, thêm động lực để doanh nghiệp nhỏ và vừa lớn lên
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đánh giá cao Bộ Tài chính đã khẩn trương chuẩn bị dự án Luật, đồng thời thống nhất với tên gọi Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ảnh: VPQH

Chuyển từ “hỗ trợ” sang “phát triển”, lấy doanh nghiệp làm trung tâm

Sáng ngày 28/8, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nhiều ý kiến đánh giá dự thảo luật đang đặt ra hướng tiếp cận mới, song cần tiếp tục hoàn thiện để chính sách thực sự đến được với doanh nghiệp, nhất là trong tiếp cận vốn, đất đai, hạ tầng, khoa học công nghệ và chuyển đổi số.

Phát biểu tại phiên họp, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đánh giá cao Bộ Tài chính đã khẩn trương chuẩn bị dự án Luật, đồng thời thống nhất với tên gọi Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Theo Chủ tịch Quốc hội, dự thảo cần bám sát tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị và nghị quyết của Quốc hội về phát triển kinh tế tư nhân. Trong đó, tư duy hỗ trợ cần chuyển từ khả năng cung cấp của Nhà nước sang nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, lấy doanh nghiệp làm trung tâm và đo bằng kết quả đầu ra.

“Lần này làm sao chúng ta phải đột phá về chính sách”, Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh. Theo đó, cần tập trung thay đổi tiêu chí xác định và đối tượng được ưu tiên hỗ trợ; khơi thông các nguồn lực về tài chính, tín dụng, đất đai, hạ tầng; đổi mới phương thức hỗ trợ theo kết quả, tránh tình trạng hỗ trợ dàn trải, cào bằng.

Chủ tịch Quốc hội cũng lưu ý việc phát triển hệ sinh thái hỗ trợ toàn diện, thúc đẩy chuyển đổi số và tạo điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị.

Đáng chú ý, về tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa, Chủ tịch Quốc hội cho rằng việc đơn giản hóa tiêu chí là bước tiến cần thiết nhưng chưa đủ. Dự thảo có thể bổ sung tiêu chí về giá trị gia tăng hoặc tỉ lệ chi phí/doanh thu; cần tính đến đặc thù của doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khởi nghiệp có số lao động không lớn nhưng doanh thu và giá trị gia tăng cao.

Cùng với đó, cần nghiên cứu cơ chế để doanh nghiệp không tiếp tục nhận hỗ trợ khi đã vượt ngưỡng trong một khoảng thời gian nhất định, qua đó tập trung nguồn lực đúng đối tượng.

Cho vay dựa trên dữ liệu, bảo lãnh tín dụng hiệu quả

Trong các vấn đề được Chủ tịch Quốc hội đặc biệt nhấn mạnh, tiếp cận vốn và tín dụng được xác định là một điểm đột phá then chốt.

Theo Chủ tịch Quốc hội, doanh nghiệp muốn có mặt bằng, thiết bị, đầu tư khoa học công nghệ đều cần nguồn vốn. Vì vậy, dự thảo cần khuyến khích các tổ chức tín dụng cho vay dựa trên dòng tiền, chuỗi giá trị, tài sản vô hình, quyền sở hữu trí tuệ và tài sản số thay vì chỉ dựa vào tài sản bất động sản thế chấp.

Cùng với đó là xây dựng chế độ kiểm toán đơn giản cho doanh nghiệp siêu nhỏ, tương đồng hộ kinh doanh, nâng quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa với chức năng là cho vay tài trợ khởi nghiệp, đầu tư, quỹ tư nhân.

“Đây là nội dung là thực chất nhất. Rào cản lớn nhất của doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay chính là tiếp cận vốn. Nếu cho vay dựa trên dữ liệu được thiết kế tốt và có bảo lãnh tín dụng hiệu quả thì sẽ đảm bảo năng lực tăng trưởng”, Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh.

Chủ tịch Quốc hội đồng thời lưu ý cần có khung định giá tài sản trí tuệ, tài sản số rõ ràng và cơ chế chia sẻ rủi ro thông qua các quỹ, bảo lãnh tín dụng. Nếu không, những quy định về cho vay dựa trên tài sản vô hình có nguy cơ chỉ dừng lại trên giấy.

Liên quan đến phương thức hỗ trợ, Chủ tịch Quốc hội đánh giá cao việc dự thảo nghiên cứu cơ chế voucher – phiếu hỗ trợ từ ngân sách để doanh nghiệp chủ động lựa chọn đơn vị tư vấn, đào tạo, chuyển đổi số phù hợp. Ngân sách thanh toán theo kết quả đầu ra và mức độ hài lòng của doanh nghiệp.

Theo đánh giá tại phiên họp, cách tiếp cận này có thể tạo động lực để các đơn vị cung cấp dịch vụ hỗ trợ cạnh tranh về chất lượng, hạn chế hỗ trợ hình thức và nâng hiệu quả sử dụng ngân sách. Đi kèm với đó, cần kiểm soát nguy cơ gian lận, chênh lệch chất lượng dịch vụ giữa các địa phương; đồng thời có hệ thống đánh giá độc lập, công khai nhà cung cấp đạt chuẩn và cơ chế khiếu nại phù hợp.

Chủ tịch Quốc hội cũng đề nghị quan tâm phát triển hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp, trong đó có hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp chuyển đổi từ hộ kinh doanh, hỗ trợ về dữ liệu thuế, bảo hiểm xã hội, tín dụng và các điều kiện cần thiết để doanh nghiệp phát triển.

Đối với đất đai, hạ tầng, Chủ tịch Quốc hội gợi mở việc địa phương dành quỹ đất, nhà xưởng công dôi dư với giá phù hợp để hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thuê, sử dụng hạ tầng.

Mục tiêu cuối cùng, theo Chủ tịch Quốc hội, không chỉ là tạo điều kiện để doanh nghiệp gia nhập thị trường mà còn phải tạo cơ chế để doanh nghiệp lớn lên, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu và đóng góp thực chất vào tăng trưởng bền vững.

Đo hiệu quả hỗ trợ, ưu tiên chính sách thực hiện được ngay

Thảo luận tại phiên họp, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải thống nhất với việc đổi tên luật từ “hỗ trợ” sang “phát triển”, đồng thời đề nghị bổ sung quy định chuyển tiếp để bảo đảm quyền lợi của những doanh nghiệp đang thụ hưởng chính sách theo luật hiện hành.

Theo bà Nguyễn Thanh Hải, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng số doanh nghiệp đang hoạt động. Vì vậy, chính sách đối với khu vực này không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn có vai trò xã hội, góp phần bảo đảm việc làm và ổn định xã hội.

Một vấn đề được bà Nguyễn Thanh Hải đặc biệt lưu ý là đánh giá hiệu quả sau hỗ trợ. Hồ sơ dự án Luật đã có nhiều số liệu về đào tạo, tư vấn, kết nối, hỗ trợ, nhưng còn thiếu chuỗi số liệu về tác động sau khi doanh nghiệp nhận hỗ trợ.

Do đó, cần chuẩn hóa số liệu và bổ sung các chỉ tiêu như năng suất, doanh thu, việc làm, mức độ chuyển đổi số, đổi mới công nghệ, khả năng tiếp cận vốn, tỷ lệ doanh nghiệp duy trì hoạt động và khả năng tham gia chuỗi giá trị. Đây sẽ là căn cứ để đánh giá tính khả thi cũng như hiệu quả thực thi pháp luật.

Đối với các chính sách khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, bà Nguyễn Thanh Hải đề nghị làm rõ phạm vi chi phí được tính, hồ sơ chứng minh, nguyên tắc phân bổ và cơ chế tránh trùng lặp với các nguồn hỗ trợ khác.

Với các nền tảng số, phần mềm, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu và hạ tầng dùng chung, cần chú trọng nguyên tắc liên thông, tiêu chuẩn mở, khả năng chuyển đổi nhà cung cấp, an toàn thông tin, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân, bí mật kinh doanh và quyền sở hữu trí tuệ.

Một vấn đề khác được nêu là nhiều chính sách hiện mới dừng ở mức “khuyến khích”, khiến hiệu quả phụ thuộc khá lớn vào mức độ quan tâm của từng địa phương. Do đó, cần có cơ chế đánh giá kết quả thực hiện, gắn với các chỉ tiêu hoặc KPI cụ thể đối với địa phương.

Tạo thuận lợi tiếp cận vốn, thêm động lực để doanh nghiệp nhỏ và vừa lớn lên
Quang cảnh phiên họp. Ảnh: VPQH

Đại diện Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), ông Đậu Anh Tuấn đánh giá cao tinh thần của dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt là việc đổi tên Luật. Theo ông, tên gọi “phát triển” thể hiện một thông điệp chính sách quan trọng, cho thấy Nhà nước không chỉ dừng ở việc hỗ trợ mà hướng tới tạo môi trường để doanh nghiệp phát triển.

Từ thực tiễn triển khai các chính sách trước đây, ông Đậu Anh Tuấn cho rằng cần ưu tiên những chính sách có thể thực hiện được ngay sau khi luật được ban hành. Bởi một chính sách dù có mục tiêu tốt nhưng nếu thiếu bộ máy, nguồn lực và động lực thực hiện thì khi xuống cơ sở, mức độ doanh nghiệp thực sự được thụ hưởng có thể rất hạn chế.

Một đề xuất được đại diện VCCI nhấn mạnh là nghiên cứu cơ chế cho doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh được nộp thuế theo doanh thu theo phương pháp đơn giản. Theo ông, đây có thể là chính sách có tác động lớn đối với khu vực kinh doanh quy mô nhỏ.

Bên cạnh đó, có thể nghiên cứu cơ chế khấu trừ nhanh chi phí đầu tư đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa; gắn nghĩa vụ thanh toán đúng hạn của doanh nghiệp lớn với một số chính sách thuế nhằm hạn chế tình trạng doanh nghiệp nhỏ bị chiếm dụng vốn.

Đổi mới phương thức hỗ trợ của các quỹ

Làm rõ các ý kiến tại phiên họp, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn khẳng định, cơ quan soạn thảo sẽ nghiêm túc tiếp thu các ý kiến để tiếp tục hoàn thiện dự án Luật, đáp ứng yêu cầu của cộng đồng doanh nghiệp và yêu cầu phát triển kinh tế trong điều kiện mới.

Về tên gọi, Bộ trưởng cho rằng các ý kiến đều thống nhất cao với tên Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa và sẽ tiếp thu ý kiến về cơ chế chuyển tiếp.

Liên quan tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa, Bộ trưởng thông tin, dự thảo đang thiết kế theo hướng thông thoáng hơn, trong đó tiêu chí về lao động và các tiêu chí về quy mô doanh thu, vốn được quy định theo hướng giao Chính phủ quy định cụ thể.

Theo đó, doanh nghiệp được xác định theo tiêu chí lao động bình quân dưới 300 người và lựa chọn một trong hai tiêu chí về doanh thu hoặc vốn: doanh thu dưới 500 tỷ đồng hoặc vốn dưới 150 tỷ đồng.

Liên quan đến các chính sách hỗ trợ, theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, dự thảo Luật quy định 11 chính sách hỗ trợ, gồm 10 chính sách hỗ trợ chung và 1 chính sách cụ thể đối với doanh nghiệp có phụ nữ, người dân tộc miền núi, người khuyết tật.

Trong đó, vấn đề được các đại biểu đặc biệt quan tâm là tiếp cận vốn. Bộ trưởng cho biết, doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện chiếm khoảng 98,4% tổng số doanh nghiệp, nhưng dư nợ tín dụng dành cho khu vực này chỉ khoảng 19-20%, ở mức thấp.

Lý giải, Bộ trưởng cho rằng doanh nghiệp nhỏ và vừa thường mới thành lập, quy mô nhỏ và đặc biệt là thiếu tài sản thế chấp, nên việc tiếp cận vốn gặp nhiều khó khăn. “Chúng ta cần tháo gỡ điểm nghẽn là cơ chế”, Bộ trưởng nói, đồng thời cho biết các chính sách hỗ trợ đang được triển khai theo tinh thần các nghị quyết liên quan.

Theo Bộ trưởng, thời gian tới Chính phủ sẽ ban hành chính sách hỗ trợ lãi suất 2% đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia lĩnh vực kinh tế sinh thái, tuần hoàn.

Đáng chú ý, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết hiện đang có 2 nhóm quỹ liên quan trực tiếp đến hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, gồm quỹ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Trung ương và các quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp ở địa phương. Tuy nhiên, theo Bộ trưởng, hoạt động của các quỹ này còn rất hạn chế.

Hiện có 19/24 quỹ bảo lãnh tín dụng địa phương hoạt động, nhưng “hoạt động rất èo uột”. Dẫn số liệu cụ thể, Bộ trưởng cho biết, sau 13 năm hoạt động, các quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ có doanh số bảo lãnh khoảng 4.300 tỷ đồng, với 2.100 hợp đồng bảo lãnh cho khoảng 1.000 doanh nghiệp. Dư nợ trả nợ thay khoảng 130 tỷ đồng, trong đó đã trả nợ khoảng 24 tỷ đồng.

Đối với Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, sau 13 năm hoạt động, số tiền giải ngân khoảng 1.400 tỷ đồng và đã thu hồi khoảng 1.156 tỷ đồng. “Tôi lấy ví dụ như vậy để thấy rằng chúng ta phải tính phương án mới”, Bộ trưởng nhấn mạnh.

Tạo thuận lợi tiếp cận vốn, thêm động lực để doanh nghiệp nhỏ và vừa lớn lên
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn làm rõ các nội dung đại biểu quan tâm. Ảnh: VPQH

Theo Bộ trưởng, một trong những vấn đề cốt lõi của hoạt động tín dụng là kiểm soát dòng tiền của doanh nghiệp vay. Bộ trưởng phân tích, các ngân hàng thương mại không chỉ dựa vào tài sản bảo đảm mà còn kiểm soát dòng tiền, doanh thu, chi phí của đối tượng vay thông qua hệ thống. Trong khi đó, các quỹ bảo lãnh tín dụng hiện chưa có được hệ thống kiểm soát dòng tiền tương tự.

Đây là một trong những cơ sở để nghiên cứu, đổi mới phương thức hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong thời gian tới.

Một nội dung khác được Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn làm rõ là chính sách thuế đối với doanh nghiệp quy mô nhỏ. Bộ trưởng cho biết, Chính phủ đang quyết liệt rà soát thủ tục hành chính về thuế và hải quan, hướng tới rút ngắn thời gian tuân thủ và giảm chi phí cho doanh nghiệp.

Theo đó, sau khi Luật được ban hành, Bộ Tài chính sẽ hướng dẫn đối với nhóm doanh nghiệp có doanh thu dưới 10 tỷ đồng thực hiện phương pháp tính thuế đơn giản theo tỷ lệ phần trăm trên doanh thu. Bộ trưởng cho biết đây là hướng được nghiên cứu trên cơ sở khảo sát cùng VCCI và các hiệp hội doanh nghiệp, nhằm đáp ứng yêu cầu về giảm thủ tục hành chính và chi phí tuân thủ.

Cách tiếp cận này cũng được đặt trong tổng thể yêu cầu tiếp tục cải cách thủ tục, tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp quy mô nhỏ trong quá trình hoạt động.

Trước ý kiến đề nghị cần đánh giá hiệu quả thực tế của chính sách hỗ trợ, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cũng thống nhất cho rằng cần thiết kế tiêu chí KPI đối với địa phương.

Theo Bộ trưởng, nếu chỉ quy định theo hướng khuyến khích mà không có tiêu chí rõ ràng thì có thể dẫn đến tình trạng địa phương không mạnh dạn triển khai hoặc mức độ thực hiện phụ thuộc vào trách nhiệm của từng nơi. Vì vậy, có thể thiết kế tiêu chí đánh giá đối với Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp xã trong việc hỗ trợ doanh nghiệp.

Liên quan đến thủ tục pháp lý, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn đồng tình với ý kiến cho rằng hiện nay gia nhập thị trường tương đối dễ nhưng rút khỏi thị trường còn khó. Theo Bộ trưởng, đây không chỉ là vấn đề thủ tục hành chính mà còn liên quan đến yêu cầu quản lý thuế và phòng ngừa gian lận, trốn lậu thuế.

Bộ trưởng cho biết đã chỉ đạo cơ quan thuế, hải quan làm sạch cơ sở dữ liệu về đối tượng nộp thuế. Trong đó, đối với những doanh nghiệp đã ngừng hoạt động, cơ quan quản lý sẽ xử lý theo thẩm quyền đối với đăng ký thuế, hóa đơn nhằm ngăn ngừa tình trạng doanh nghiệp không còn hoạt động nhưng vẫn tồn tại các yếu tố có thể bị lợi dụng để gian lận.

Bộ trưởng nhấn mạnh Bộ Tài chính sẽ tiếp tục tiếp thu các ý kiến đóng góp để hoàn thiện dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, hướng tới một đạo luật có chất lượng, đáp ứng yêu cầu của cộng đồng doanh nghiệp và yêu cầu phát triển của nền kinh tế trong giai đoạn mới.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
  • :
  • :