A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Khoa học, công nghệ và hạ tầng số: Đòn bẩy phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Đầu tư khoa học, công nghệ và hạ tầng số đang mở ra hướng phát triển mới cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Từ hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp, mở rộng thị trường tiêu thụ đến nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ công, những giải pháp này góp phần cải thiện thu nhập, tạo nền tảng để người dân chủ động phát triển sinh kế và giảm nghèo bền vững.

bna-thi-cong-tuyen-duong-huong-phu-hanh-o-huyen-tan-ky-anh-xuan-hoang20260513160800-4667.jpg

Hệ thống hạ tầng vùng đồng bào dân tộc thiểu số từng bước được cải thiện, đời sống người dân được nâng lên, tỷ lệ hộ nghèo giảm. Ảnh: Phạm Thông

Từ hỗ trợ sản xuất đến tạo động lực phát triển

Sau nhiều năm triển khai các chương trình, chính sách dân tộc, diện mạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã có nhiều chuyển biến tích cực. Hệ thống hạ tầng từng bước được cải thiện, đời sống người dân được nâng lên, tỷ lệ hộ nghèo giảm. Tuy nhiên, tại nhiều địa bàn, kinh tế - xã hội vẫn phát triển chậm, kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu, chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế, ảnh hưởng đến sinh kế và khả năng tiếp cận các cơ hội phát triển.

Trong bối cảnh đó, đầu tư khoa học, công nghệ và hạ tầng số không chỉ giúp hiện đại hóa sản xuất mà còn tạo điều kiện để người dân tiếp cận tri thức, thông tin thị trường và dịch vụ thiết yếu. Khi kết hợp với đào tạo kỹ năng, tổ chức lại sản xuất và phát triển chuỗi giá trị, công nghệ có thể chuyển những hỗ trợ đơn lẻ thành động lực tạo sinh kế ổn định.

Chỉ thị số 19/CT-TTg ngày 12/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh thực hiện Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đặt ra yêu cầu ưu tiên nguồn lực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đẩy nhanh tiến độ các chương trình, dự án, đồng thời huy động, lồng ghép nguồn lực, nhất là tại địa bàn đặc biệt khó khăn và vùng biên giới.

Cùng với phát triển hạ tầng thiết yếu, sinh kế cần gắn với đổi mới phương thức canh tác, tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị, phát triển nông nghiệp đặc sản, dược liệu, lâm sản ngoài gỗ và sản phẩm bản địa có lợi thế. Đây là cơ sở để khoa học, công nghệ góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và thu nhập cho người dân.

Số hóa sản xuất, nâng giá trị nông sản

Sau sáp nhập, tỉnh Thái Nguyên có 92 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 77 xã và 15 phường, với dân số gần 1,8 triệu người. Trên nền tảng xây dựng nông thôn mới, địa phương đang chuyển từ hỗ trợ dàn trải sang quản trị dựa trên dữ liệu số, phân nhóm xã theo đặc thù phát triển để triển khai chính sách phù hợp.

Với hơn 50 dân tộc cùng sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm gần 30% dân số, Thái Nguyên xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực quan trọng để nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc.

Giai đoạn 2021-2025, tỉnh huy động hàng nghìn tỷ đồng từ ngân sách Trung ương và địa phương để triển khai 10 dự án thành phần thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Chương trình 1719). Nguồn lực tập trung đầu tư hạ tầng thiết yếu, hỗ trợ sản xuất, đào tạo nghề, nâng cao chất lượng giáo dục, y tế và bảo tồn bản sắc văn hóa tại các địa bàn như Võ Nhai, Định Hóa, Đồng Hỷ, Phú Lương và Đại Từ.

Đáng chú ý, việc hỗ trợ sản xuất ngày càng gắn với ứng dụng khoa học, công nghệ. Tại các vùng chè trọng điểm như Tân Cương, La Bằng, Trại Cài và Phúc Thuận, nhiều hợp tác xã áp dụng quy trình VietGAP, sản xuất hữu cơ, tưới tiết kiệm, cơ giới hóa chế biến, truy xuất nguồn gốc bằng mã QR và nhật ký điện tử. Những giải pháp này góp phần nâng cao chất lượng chè, mở rộng khả năng tiếp cận thị trường và gia tăng giá trị sản phẩm.

Ở các địa bàn vùng cao như Định Hóa, Võ Nhai, thương mại điện tử giúp nông sản giảm phụ thuộc vào khâu trung gian, qua đó giá trị gia tăng trực tiếp cho nông dân tăng từ 20-30%. Hàng trăm sản phẩm OCOP của tỉnh đã được số hóa thông tin, kết nối với các sàn thương mại điện tử và hệ thống phân phối hiện đại.

Chuyển đổi số còn hỗ trợ quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công. Người dân từng bước tiếp cận thuận lợi hơn với thông tin, chính sách an sinh và các dịch vụ thiết yếu, góp phần giảm chi phí đi lại, thu hẹp khoảng cách giữa vùng sâu, vùng xa với khu vực trung tâm.

3008-chetancuong-lwdl-687.jpg

Việc hỗ trợ sản xuất ngày càng gắn với ứng dụng khoa học, công nghệ. Ảnh: Ngọc Nguyễn

Công nghệ mở lối cho sinh kế vùng cao

Tại Lào Cai, chuyển đổi số trong nông nghiệp tạo thêm cơ hội để người dân tiếp cận tri thức, đổi mới phương thức sản xuất và mở rộng đầu ra cho nông sản.

Ứng dụng “Nông nghiệp thông minh Bát Xát” do Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã Bát Xát đưa vào vận hành tích hợp các tiện ích như tra cứu kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, cập nhật giá cả thị trường và kết nối tư vấn chuyên gia. Thông qua điện thoại thông minh, người dân có thể tiếp cận kiến thức phục vụ sản xuất thuận tiện hơn.

Để ứng dụng phát huy hiệu quả, viên chức của Trung tâm trực tiếp đến các thôn, bản hướng dẫn cài đặt, đăng ký và sử dụng. Những hộ lớn tuổi, hạn chế kỹ năng công nghệ được ưu tiên hỗ trợ, từng bước tháo gỡ rào cản trong tiếp cận công nghệ số.

Song song với nền tảng số, người dân Bát Xát phát triển các mô hình trồng rau, dược liệu và cây ăn quả ôn đới ứng dụng công nghệ cao. Nhà kính, hệ thống tưới nhỏ giọt và cảm biến theo dõi độ ẩm, dinh dưỡng đất giúp kiểm soát quá trình sinh trưởng, hạn chế rủi ro thời tiết. Một số hợp tác xã sử dụng mã QR để truy xuất nguồn gốc, nâng cao uy tín và giá trị nông sản.

Tại xã Lùng Phình, tổ chức sản xuất theo chuỗi liên kết cũng mang lại hiệu quả. Từ cuối năm 2023, Hợp tác xã Nông nghiệp Lùng Phình triển khai mô hình trồng rau an toàn, đầu tư gần 2 ha nhà lưới và mở rộng sản xuất trên khoảng 7 ha với các loại rau ôn đới như su hào, bắp cải, súp lơ, cà chua, dưa chuột cùng các sản phẩm nấm.

Nhờ sản xuất tập trung, kiểm soát quy trình và liên kết tiêu thụ, mỗi năm hợp tác xã cung ứng hơn 100 tấn rau ra thị trường, trong đó có các hệ thống siêu thị và chuỗi phân phối trong, ngoài tỉnh. Mô hình tạo việc làm tại chỗ, giúp người dân tiếp cận kỹ thuật mới, tận dụng đất vườn, đất nương để sản xuất hàng hóa và từng bước ổn định thu nhập.

Hiện toàn xã Lùng Phình có 2 hợp tác xã và 1 doanh nghiệp đầu tư sản xuất rau an toàn, với tổng diện tích 24,5 ha. Thực tiễn cho thấy công nghệ phát huy hiệu quả rõ hơn khi gắn với tổ chức sản xuất, liên kết thị trường và hướng dẫn kỹ thuật, thay vì chỉ đầu tư thiết bị riêng lẻ.

Đầu tư đồng bộ để giảm nghèo bền vững

Từ Thái Nguyên đến Lào Cai, các mô hình thực tiễn cho thấy khoa học, công nghệ có thể tạo động lực phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, công nghệ chỉ phát huy đầy đủ tác dụng khi đi cùng hạ tầng thiết yếu, nhất là giao thông, điện, viễn thông và khả năng tiếp cận Internet.

Theo Chỉ thị số 19/CT-TTg, các chương trình, chính sách cần được triển khai đồng bộ, gắn giảm nghèo với ổn định dân cư, phát triển hạ tầng và nâng cao đời sống. Bộ Xây dựng được giao tập trung nguồn lực phát triển giao thông nông thôn, cầu dân sinh, tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo, ưu tiên đồng bào dân tộc thiểu số. Bộ Công Thương có nhiệm vụ chỉ đạo phát triển hệ thống điện, phấn đấu đến năm 2030, 100% số hộ dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được sử dụng điện.

Việc lồng ghép nguồn lực từ Chương trình 1719 với chương trình xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững giúp hạn chế đầu tư phân tán, tạo sự bổ trợ giữa hạ tầng và sinh kế. Đường giao thông được cải thiện sẽ tạo thuận lợi cho vận chuyển nông sản; điện và Internet được bảo đảm sẽ mở rộng điều kiện phát triển sản xuất thông minh, thương mại điện tử và dịch vụ số.

Bên cạnh đó, nâng cao kỹ năng số cần được coi là nhiệm vụ xuyên suốt. Hạ tầng và thiết bị chỉ là điều kiện ban đầu; khả năng sử dụng công nghệ, tiếp cận thông tin và vận dụng kiến thức vào sản xuất mới quyết định hiệu quả lâu dài.

Đầu tư khoa học, công nghệ và hạ tầng số vì thế không chỉ là giải pháp kỹ thuật mà còn là đòn bẩy chiến lược nâng cao năng lực phát triển của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Khi chính sách dân tộc được triển khai đồng bộ với chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và liên kết thị trường, người dân có thêm cơ hội phát huy lợi thế bản địa, cải thiện thu nhập và chủ động vươn lên thoát nghèo. Đây là nền tảng quan trọng để thu hẹp khoảng cách phát triển, nâng cao chất lượng cuộc sống và hướng tới giảm nghèo bền vững.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
  • :
  • :