Hoàn thiện cơ chế tài chính đối với hạ tầng thị trường chứng khoán
Theo Nghị định số 145/2026/NĐ-CP, cơ chế tài chính mới đối với Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam và Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam quy định hoạt động đầu tư phải tuân thủ pháp luật về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
![]() |
| Ảnh minh họa. |
Tăng kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động đầu tư
Theo Nghị định số 145/2026/NĐ-CP, cơ chế tài chính mới đối với Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam và Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam quy định hoạt động đầu tư phải tuân thủ pháp luật về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Đáng chú ý, ngoài việc tuân thủ các quy định chung, hai doanh nghiệp này phải xác định rõ các xung đột lợi ích có thể phát sinh trong quá trình đầu tư; đồng thời xây dựng biện pháp kiểm soát xung đột lợi ích và báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định trước khi triển khai hoạt động đầu tư.
Thẩm quyền quyết định đầu tư được thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp, điều lệ tổ chức và hoạt động của Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam, Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam và các quy định pháp luật liên quan.
Theo đánh giá, quy định này cho thấy cơ chế tài chính mới không chỉ hướng tới tăng tính chủ động cho doanh nghiệp mà còn đặt trọng tâm vào kiểm soát rủi ro quản trị, nhất là trong bối cảnh các tổ chức hạ tầng thị trường ngày càng mở rộng hoạt động đầu tư công nghệ, dữ liệu và dịch vụ tài chính.
Hoàn thiện cơ chế quản lý doanh thu, chi phí đặc thù
Nghị định quy định cụ thể cơ chế quản lý doanh thu và thu nhập khác đối với Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam và Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam theo quy định của pháp luật về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Đối với Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam, doanh thu bao gồm doanh thu từ hoạt động nghiệp vụ như quản lý thành viên, tổ chức thị trường và các hoạt động nghiệp vụ khác theo quy định của pháp luật; doanh thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ như cung cấp thông tin, dịch vụ hạ tầng công nghệ cho thị trường chứng khoán; cùng doanh thu, thu nhập từ hoạt động đầu tư vốn vào công ty con, hoạt động tài chính và các khoản thu nhập khác.
Trong khi đó, cơ cấu doanh thu của Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam được thiết kế theo hướng phản ánh đầy đủ hơn đặc thù hoạt động lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán. Ngoài các hoạt động đăng ký, lưu ký, chuyển khoản chứng khoán và thực hiện quyền, doanh thu còn bao gồm các hoạt động vay và cho vay chứng khoán, quản lý tài sản ký quỹ, xử lý lỗi sau giao dịch, đăng ký biện pháp bảo đảm đối với chứng khoán, phong tỏa chứng khoán theo yêu cầu của nhà đầu tư và các hoạt động nghiệp vụ khác theo quy định pháp luật.
Đáng chú ý, Nghị định đã bổ sung doanh thu từ hoạt động lưu ký, thanh toán giao dịch hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon vào cơ cấu doanh thu của Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam. Đây được xem là bước chuẩn bị quan trọng về hạ tầng tài chính cho việc hình thành và vận hành thị trường carbon tại Việt Nam trong thời gian tới.
Ngoài doanh thu hoạt động tài chính theo quy định chung, Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam còn được hạch toán doanh thu tài chính đối với khoản lãi tiền gửi phát sinh từ hoạt động thanh toán hộ cổ tức, gốc, lãi công cụ nợ của Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính quyền địa phương và các chứng khoán khác.
Về quản lý chi phí, Nghị định quy định Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam và Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam thực hiện quản lý chi phí theo quy định của pháp luật về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, pháp luật thuế và các quy định pháp luật liên quan.
Đối với Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam, một số khoản chi phí đặc thù được tính vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế, trong đó có khoản chi trích lập Quỹ phòng ngừa rủi ro nghiệp vụ theo quy định của pháp luật chứng khoán. Việc trích lập quỹ được thực hiện hàng quý và số dư chưa sử dụng hết được chuyển sang năm sau để tiếp tục sử dụng.
Ngoài ra, chi phí chuyển công ty con của Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam đối với hoạt động giao dịch chuyển quyền sở hữu chứng khoán ngoài hệ thống giao dịch cũng được tính vào chi phí theo quy định.
Theo đánh giá, cơ chế chi phí đặc thù này sẽ góp phần tăng năng lực dự phòng rủi ro, bảo đảm an toàn cho hệ thống bù trừ, thanh toán và xử lý giao dịch trên thị trường chứng khoán.
Đánh giá doanh nghiệp gắn với biến động khách quan của thị trường
Theo Nghị định số 145/2026/NĐ-CP, Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam và Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam thực hiện đánh giá, xếp loại doanh nghiệp theo quy định áp dụng đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.
Tuy nhiên, khi đánh giá hiệu quả hoạt động, ngoài các yếu tố được loại trừ theo quy định chung, Nghị định cho phép loại trừ thêm các yếu tố khách quan tác động trực tiếp tới doanh thu và hiệu quả hoạt động của hai doanh nghiệp này.
Đối với Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam, các yếu tố được xem xét loại trừ gồm số lượng thành viên thị trường, số lượng doanh nghiệp niêm yết và đăng ký giao dịch, khối lượng và giá trị giao dịch chứng khoán, giá trị trái phiếu trúng thầu, quy mô huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu, giao dịch chứng khoán phái sinh, hoạt động đấu giá, dựng sổ, doanh thu từ tổ chức sàn giao dịch carbon trong nước và doanh thu từ tổ chức các thị trường khác.
Trong khi đó, đối với Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam, các yếu tố được loại trừ bao gồm khối lượng chứng khoán lưu ký, giá trị chứng khoán đăng ký, số lượng thành viên lưu ký và thành viên bù trừ, số lượng hợp đồng vay và cho vay chứng khoán, quy mô tài sản ký quỹ, giao dịch xử lý lỗi sau giao dịch, số lượng hồ sơ đăng ký biện pháp bảo đảm, giá trị chứng khoán phong tỏa cũng như hoạt động lưu ký, thanh toán giao dịch hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon.
Việc bổ sung các yếu tố loại trừ được đánh giá sẽ giúp phản ánh sát hơn hiệu quả hoạt động thực tế của các doanh nghiệp hạ tầng thị trường chứng khoán, trong bối cảnh doanh thu và quy mô hoạt động chịu tác động lớn từ biến động khách quan của thị trường vốn.
Nghị định số 145/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 22/6/2026 và áp dụng từ năm tài chính 2026. Đồng thời, Nghị định số 59/2021/NĐ-CP hết hiệu lực kể từ thời điểm Nghị định mới có hiệu lực thi hành.





