Từ trang sách: Mông lung trong Dải Ngân hà
Hà Hồng Hạnh là nhà thơ nữ 'đang lên'. Năm 2025, chị được nhận giải C của Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam cho tập thơ “Đối thoại với bóng”, NXB Hội Nhà văn; giải C cuộc thi thơ “Thơ ca và Nguồn cội”. “Em lót thảm đợi anh” là tập thơ thứ hai của chị.
|
| 'Em lót thảm đợi anh' của Hà Hồng Hạnh do NXB Hội Nhà văn ấn hành. |
Lăng kính giới nữ trong thơ chị, là lăng kính bản thể, sau đó là trải nghiệm giới hình thành qua đời sống hàng ngày của cá nhân. Hà Hồng Hạnh không cần “học làm nữ”. Những khía cạnh đời sống, tiếng nói tâm thức, nhịp điệu ngôn ngữ trong thơ chị cất lên tiếng nói của giới. Đó là tiếng nói khát khao, sẻ chia, cảm thông giàu trắc ẩn về giới của mình.
“Đêm qua anh đi hội bản bên/ bàn chân có nhớ lối cũ/ em lót thảm đợi anh”, đây là ba câu thơ trong khổ cuối bài thơ “Em lót thảm đợi anh”, được Hà Hồng Hạnh nâng niu, chọn làm tên chung cho thi tập.
Trong đời sống vợ chồng, phòng ngủ là một trong các căn phòng quan trọng nhất của ngôi nhà, bởi đó là căn phòng của sự riêng tư và ấm cúng nhất. Thảm lót phòng ngủ là đồ tạo sự ấm cúng nhất. “Em lót thảm đợi anh”, đâu chỉ là hành vi sống sạch sẽ của người vợ? Hơn hết, ý nghĩa tinh thần của sự thục hạnh, thủy chung, nâng niu, chờ đợi hạnh phúc.
“Em” yêu “anh”, thuộc về “anh” bằng tình yêu lứa đôi, bằng tình yêu bản sắc, “tiếng khèn mở lối/ dụ em/ lạc bước”. Và cứ thế, cùng năm tháng “tiếng khèn gọi vía em qua cửa/ gọi em leo núi cùng anh tra hạt lúa/ vẽ sắc màu lên nương”. Họ thật hạnh phúc.
Ở bài thơ này, trong “cảm xúc giới” có sự hờn ghen, lo lắng khi “anh đi hội bản bên/ bàn chân có nhớ lối cũ”? Đọc bài thơ này, người đọc có thể tưởng tượng ra “em” đi đi lại lại trong phòng, hết nhìn bầu trời, lại ngó nghiêng vì sao, bồn chồn... Thơ Hà Hồng Hạnh cứ thế, rung lên tính giới.
Như mọi nhà thơ nữ khác, Hà Hồng Hạnh viết về tình yêu. Tình yêu, hạnh phúc bao giờ cũng là khát khao chính đáng, nỗi lòng khắc khoải. Có thể thấy trong các bài thơ “Anh biết không”, “Tìm anh”, “Tìm anh trong vô thức”, “Người đàn bà & mùa thu vàng”, “Em lót thảm đợi anh”, “Một ngày không có anh”, “Gió vẽ gương mặt anh”, “Một ngày em thèm được ngốc nghếch”...
“Em sợ một ngày không thấy anh/ em bật khóc/ trong những đêm triền miên/ điên cuồng kiếm tìm trong vô thức/ nỗi buồn cũng bỏ em đi”, (Một ngày không có anh). Đó hẳn là một khoảng trống, đáng sợ.
Không gian văn hóa bản địa đặc sắc
Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của hình tượng. “Em lót thảm đợi anh” có hẳn một không gian văn hóa bản địa, đặc sắc. Đó là những thanh âm núi rừng, vang vọng từ ruột núi, được chị tạo ra trong không gian nghệ thuật của thơ mình.
“Tính tẩu mười hai dây khúc thần tiên/ trong ánh trăng rằm bưởi chín/ anh đưa em qua chín suối mười đèo/ ruộng bậc thang uốn lượn”, (Đêm vỡ ra rồi). Trong bài thơ này, người đọc không chỉ biết đến “tính tẩu” - một nhạc cụ khảy dây được dùng phổ biến ở một số dân tộc miền núi tại Việt Nam như người Thái, người Tày, người Nùng, mà còn gặp các thi ảnh “then”, “vía”, “men lá”, “váy chàm” thường chỉ gặp trong các lễ hội của cộng đồng các dân tộc thiểu số.
Trong đời sống bà con các dân tộc, khèn không chỉ là nhạc cụ, hơn thế là biểu tượng văn hóa. Đối với cộng đồng người Mông, khèn và múa khèn là hai di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu, mang đậm bản sắc văn hóa độc đáo. Những ai từng đến với các dân tộc ít người dễ tưởng tượng ra nghi lễ văn hóa, dễ nhận ra những âm thanh da diết, réo rắt gọi bạn tình của những trai bản.
Đọc thơ Hà Hồng Hạnh nhận ra những thanh âm ấy. Tiếng khèn, với tư cách là một hình tượng nghệ thuật trong sáng tạo, được chị sử dụng trong nhiều bài thơ khác. Khèn, khèn lá, khèn môi... còn có mặt trong “Tiếng khèn dụ em lạc lối”, “Vầng trăng bỏ quên”.
Có thể nói, ký ức của Hà Hồng Hạnh có đủ chiều kích của màu sắc, mùi vị, âm thanh. “Anh đâu biết/ trong vô thức/ em lần theo mùi hương tìm anh/ dù kiệt cùng tuyệt vọng” (Tìm anh trong vô thức).
Tâm hồn thơ Hà Hồng Hạnh có tất cả sắc màu, từ bóng núi, tiếng khèn, những trang phục quyến rũ, không khí rộn ràng của những lễ hội văn hóa, sự thâm sâu của những nghi lễ núi rừng.
Thơ khởi phát từ lòng người. Làm thơ có ba điểm chính: Một là Tình, hai là Cảnh, ba là Sự. Tình là người, Cảnh là trời, Sự là hợp cả trời đất mà quán thông”, (Vân đài loại ngữ, Lê Quý Đôn). Xem ra, người xưa đã rất coi trọng phần nội tâm của tác giả trong thơ.
Hà Hồng Hạnh là con “nhà nòi”, năng khiếu thơ khởi ủ từ bé, chị là một nhà báo xông xáo, lăn lộn. Chính môi trường ấy, giúp chị kết tinh trong tâm hồn những cái nhụy từ cuộc sống. Hay nói cách khác, hiện thực lắng lại, khúc xạ, soi chiếu thành những bài thơ ám ảnh.
“Chè lên hương bàng bạc/ khói lụa mềm/ những giọt mơn man hay mồ hôi lặng rơi âm ấm/ dìu dịu/ ấm trà ủ đợi bình minh” (Nương chè Tam Đảo). Thái Nguyên là quê hương của “Đệ nhất danh trà”, trong bài thơ này, Hà Hồng Hạnh tưởng tượng ra một giấc mơ, hóa giải giấc mơ về trà Thái Nguyên và thân phận.
Hà Hồng Hạnh tri âm với vũ trụ nói chung, thiên nhiên nói riêng. Tri âm là hòa điệu của một thứ nhạc tâm trong ánh sáng của sự khai ngộ. Thơ chị có những thanh âm như tiếng nói của cõi thiền: “Có tiếng vọng phía núi/ lam chướng mùa này bốc lên ngùn ngụt/ em thấy hình hài tiền kiếp/ những chạc cây bện thành chiếc võng/ ru em” (Hình hài tiền kiếp).
Những câu thơ của suy tư, lý giải, tìm mình từ vô thức, không thiếu trong “Em lót thảm đợi anh”: “Em bán niềm tin bọc trong bóng tối/ che đi sự dối lừa thường nhật/ con thiêu thân chẳng hiểu vì sao ánh sáng lung linh/ thiêu cháy/ sự mù quáng trả giá bằng cái chết/ đêm nay có một vì sao lẻ loi tự thắp sáng/ mông lung trong Dải Ngân hà” (Vì sao cô đơn).
Hà Hồng Hạnh đã và đang giới thiệu “bản đồ tâm hồn” đầy suy tư, đa sắc màu, có kích thước, hình khối của một nhà thơ có nhiều giấc mơ giàu nội lực.





