A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Mở không gian học tập đại học: Khi học liệu số không còn ranh giới

Học liệu số liên thông, sinh viên không chỉ học trong phạm vi một phòng học hay một ngôi trường mà có thể tiếp cận nguồn tri thức dùng chung rộng lớn.

Bước tiến trong số hóa học đường

Sinh viên Trường Đại học Lạc Hồng. Ảnh: LHU

Sinh viên Trường Đại học Lạc Hồng. Ảnh: LHU

Tuy nhiên, để chuyển đổi số thực sự trở thành động lực đổi mới phương thức đào tạo, bài toán lớn nhất không nằm ở công nghệ mà ở sự chuẩn hóa dữ liệu, thay đổi tư duy quản trị và cơ chế công nhận lẫn nhau giữa các trường đại học.

Mở không gian học tập

Theo Thông tư 62/2026/TT-BGDĐT, chương trình, giáo trình dùng chung phải được biên soạn, thẩm định và ban hành theo quy trình thống nhất, bảo đảm tính khách quan, minh bạch và chất lượng. Đáng chú ý, giáo trình phải bảo đảm khả năng tiếp cận, sử dụng chung, có thể khai thác dưới dạng in hoặc dạng số và kết hợp với các loại học liệu khác. Chương trình, giáo trình cũng phải được công khai trên trang thông tin điện tử; hồ sơ có thể lưu trữ bằng bản điện tử, bảo đảm giá trị pháp lý và an toàn thông tin.

Một học phần không nhất thiết phải bắt đầu và kết thúc trong một phòng học. Với máy tính hoặc điện thoại kết nối Internet, sinh viên có thể xem lại bài giảng, tự học theo tiến độ, trao đổi với giảng viên, bạn học, làm bài tập hay kiểm tra trên nền tảng trực tuyến. Cách học này đang dần trở thành một phần của đời sống đại học.

Từ học kỳ I năm học 2026-2027, Trường Đại học Công Thương TPHCM (HUIT) triển khai phương thức E-learning trên nền tảng HUITx do nhà trường xây dựng và quản lý, mở thêm lựa chọn học tập cho sinh viên. Không chỉ đưa bài giảng lên môi trường số, HUITx tích hợp học liệu, video bài giảng, câu hỏi tương tác, diễn đàn trao đổi và công cụ theo dõi tiến độ. Mô hình này giúp sinh viên chủ động tiếp cận kiến thức, đồng thời hỗ trợ nhà trường từng bước đồng bộ hệ thống quản lý và đào tạo trên nền tảng số.

Theo ThS Phạm Thái Sơn - Giám đốc Trung tâm Tuyển sinh và Truyền thông HUIT, HUITx không đơn thuần là nơi lưu trữ tài liệu mà hướng tới một hệ sinh thái giáo dục số, giúp sinh viên chủ động quản lý lộ trình học tập. Các học phần E-learning được tổ chức theo mô hình kết hợp: 70%-80% thời lượng dành cho sinh viên tự học trên HUITx, 20%-30% còn lại là các buổi học trực tiếp hoặc trực tuyến qua Zoom để trao đổi, giải đáp.

Sinh viên được hướng dẫn phương pháp học và cách thức đánh giá ngay từ đầu học phần. Nhà trường cũng áp dụng mức học phí thấp hơn 5% so với học phần trực tiếp tương đương để khuyến khích sinh viên lựa chọn.

Từ một nền tảng phục vụ sinh viên trong phạm vi một trường, HUITx gợi mở vấn đề rộng hơn: khi học liệu, bài giảng và dữ liệu học tập được số hóa, liệu các nguồn lực này có thể kết nối, chia sẻ vượt ra ngoài phạm vi một nhà trường? Khi đó, chuyển đổi số đại học không chỉ là đưa những gì đang có lên môi trường trực tuyến mà có thể tiến tới một hệ sinh thái học tập dùng chung.

Nếu HUITx cho thấy một trường đại học có thể tổ chức việc học trên nền tảng số, thì tại Đại học Quốc gia TPHCM, câu chuyện đang được mở rộng theo hướng xây dựng và chia sẻ học liệu trực tuyến ở quy mô toàn hệ thống.

Trong năm 2025, Đại học Quốc gia TPHCM triển khai 4 đợt tập huấn với 220 người tham gia, xây dựng 18 môn học theo hình thức MOOC, gồm 3 môn lý luận chính trị, 5 môn công nghệ thông tin và 10 môn đại cương. Bên cạnh đó, 11 môn học được xây dựng một phần theo hình thức MOOC dành cho Trường Phổ thông Năng khiếu. Các môn học trải rộng nhiều lĩnh vực, từ Tư tưởng Hồ Chí Minh, Kinh tế vi mô, Tâm lý học, Đại số tuyến tính, Giải tích, Xác suất thống kê đến Phân tích dữ liệu với Python, Cơ sở dữ liệu, Hóa học, Vật lý và Sinh đại cương.

Đề án được thí điểm tại Trường Đại học Kinh tế - Luật và Trường Phổ thông Năng khiếu. Tại Trường Đại học Kinh tế - Luật, 5 khóa học thu hút 3.057 sinh viên đăng ký, trong đó 2.803 sinh viên hoàn thành, đạt 92,7%. Trường Phổ thông Năng khiếu ghi nhận 467 lượt học và 127 lượt đăng ký thi cuối khóa.

Đến nay, toàn hệ thống đã xây dựng 44 môn MOOC và 39 môn học theo hình thức một phần MOOC. Đề án bước đầu hình thành hệ sinh thái MOOC tại Đại học Quốc gia TPHCM, mở rộng quy mô học liệu số, chuẩn hóa nội dung và nâng cao năng lực giảng viên trong xây dựng học liệu số.

mo-khong-gian-hoc-tap-dai-hoc-1.jpg

Sinh viên Trường Đại học Mở TPHCM. Ảnh: NTCC

Hành lang pháp lý cho học liệu dùng chung

Từ những nền tảng học tập số đang được các trường xây dựng, yêu cầu tiếp theo là chuẩn hóa, khai thác và chia sẻ học liệu rộng rãi hơn. Thông tư 62/2026/TT-BGDĐT của Bộ GD&ĐT, có hiệu lực từ ngày 12/9/2026, tạo hành lang pháp lý cho quá trình này. Thông tư quy định quy trình biên soạn, ban hành chương trình, giáo trình dạy và học các môn học, học phần bắt buộc sử dụng chung trong chương trình đào tạo các trình độ giáo dục đại học.

Cùng với Thông tư 61/2026/TT-BGDĐT về tài nguyên giáo dục mở, Thông tư 62 là cơ sở quan trọng thúc đẩy chuyển đổi số giáo dục đại học theo hướng hình thành kho học liệu dùng chung, thống nhất, giúp sinh viên tiếp cận nguồn học liệu chính thống và thuận tiện hơn.

Tại Trường Đại học Lạc Hồng, yêu cầu này được nhìn nhận không chỉ để đáp ứng quy định mà còn là cơ hội tiếp tục hoàn thiện hệ thống học tập số. PGS.TS Nguyễn Vũ Quỳnh - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Lạc Hồng, cho biết nhà trường xem Thông tư 62 là cơ hội rà soát, chuẩn hóa quy trình quản lý học liệu, từ chương trình, đề cương môn học, giáo trình, tài liệu tham khảo đến học liệu số và dữ liệu phục vụ dạy - học. “Điểm quan trọng là chúng tôi không chờ đến khi Thông tư có hiệu lực mới bắt đầu chuẩn bị. Nhà trường đang có nền tảng LMS và hệ thống học liệu số”, ông Quỳnh nói.

Từ nền tảng này, bước tiếp theo là chuẩn hóa dữ liệu, cấu trúc học liệu và tăng khả năng kết nối giữa các hệ thống. Mục tiêu là khi học một học phần, sinh viên không chỉ có một file giáo trình điện tử mà được tiếp cận hệ sinh thái gồm giáo trình, bài giảng, tài liệu tham khảo, học liệu đa phương tiện, bài tập, đánh giá và dữ liệu quá trình học tập.

mo-khong-gian-hoc-tap-dai-hoc-4.jpg

Tân sinh viên khóa 2026 Trường Đại học Thủ Dầu Một (TPHCM) làm thủ tục nhập học. Ảnh: NTCC

Không chỉ là bài toán công nghệ

Mô hình đào tạo số đang mở rộng nhưng vẫn đối mặt nhiều khó khăn. Tại Đại học Quốc gia TPHCM, tiến độ xây dựng giữa các môn học chưa đồng bộ, chất lượng học liệu còn chênh lệch; một bộ phận giảng viên chưa quen ghi hình, giảng dạy trên môi trường số, trong khi hệ thống kỹ thuật cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng lượng người dùng tăng.

Tại Trường Đại học Lạc Hồng, PGS.TS Nguyễn Vũ Quỳnh cho rằng khó khăn lớn nhất không nằm ở công nghệ mà ở chuẩn hóa và thay đổi cách làm. Mỗi ngành, khoa, giảng viên có cách xây dựng, lưu trữ và sử dụng học liệu khác nhau. Khi chuyển sang mô hình dùng chung, nhà trường phải thống nhất từ cấu trúc học liệu, chuẩn dữ liệu, quyền truy cập, bản quyền đến quy trình cập nhật. “Khó khăn lớn nhất theo tôi không nằm ở công nghệ mà nằm ở chuẩn hóa và thay đổi cách làm”, ông Quỳnh nói.

Sở hữu trí tuệ và bản quyền cũng là thách thức đáng lưu ý. Khi giáo trình, bài giảng được đưa lên môi trường số và sử dụng rộng rãi, quyền tác giả, quyền khai thác và chia sẻ cần được xác định rõ ngay từ đầu.

Một vấn đề khác là dữ liệu và khả năng liên thông. Theo PGS.TS Nguyễn Vũ Quỳnh, nếu mỗi trường xây dựng hệ thống theo một chuẩn khác nhau, sẽ hình thành nhiều kho dữ liệu nhưng chưa thể tạo thành một hệ sinh thái kết nối. Trước những yêu cầu này, Trường Đại học Lạc Hồng lựa chọn cách tiếp cận từng bước: xây dựng quy định nội bộ, phân loại và chuẩn hóa học liệu, xác định rõ trách nhiệm của đơn vị, giảng viên; đồng thời tăng cường ứng dụng LMS, AI và các công cụ quản trị dữ liệu.

“Quan trọng nhất là chúng tôi xác định đây không phải một dự án công nghệ đơn thuần. Đây là một quá trình đổi mới phương thức quản trị và phương thức dạy - học”, ông Quỳnh nhấn mạnh.

mo-khong-gian-hoc-tap-dai-hoc-2.jpg

Giao diện phương thức học tập e-learning trên nền tảng mới HUITx của Trường Đại học Công Thương TPHCM. Ảnh: HUIT

Từ kho học liệu đến hệ sinh thái giáo dục số

Theo PGS.TS Nguyễn Vũ Quỳnh, tác động lớn nhất của kho học liệu số dùng chung là chuyển từ tình trạng mỗi giảng viên, mỗi lớp sử dụng nguồn tài liệu riêng sang mô hình người học được tiếp cận nguồn học liệu chuẩn hóa, liên tục cập nhật.

Với giảng viên, học liệu chuẩn giúp giảm thời gian tìm kiếm, biên soạn nội dung cốt lõi, dành nhiều thời gian hơn cho hướng dẫn, thảo luận, thực hành và cá nhân hóa việc học. Với sinh viên, đó là khả năng học mọi lúc, mọi nơi, chủ động học trước, học lại và bổ sung kiến thức theo nhu cầu. Với nhà trường, dữ liệu học tập số giúp theo dõi rõ hơn quá trình học tập, hỗ trợ cải tiến chương trình, đánh giá chất lượng và phát hiện sớm vấn đề.

Ở quy mô lớn hơn, khi dữ liệu được chuẩn hóa và liên thông, các cơ sở đào tạo có thể kết nối chương trình, học liệu và kết quả học tập, giúp người học không còn bị giới hạn bởi ranh giới của một trường đại học.

Để kho học liệu dùng chung trở thành một hệ sinh thái trên toàn quốc, theo ông Quỳnh, cần chuyển từ “chuẩn hóa giáo trình” sang “chuẩn hóa và liên thông dữ liệu giáo dục đại học”. Trước hết là thống nhất các chuẩn về mã học phần, chuẩn đầu ra, cấu trúc học liệu, dữ liệu học tập; xây dựng hạ tầng kết nối để các LMS và hệ thống quản trị có thể liên thông; đồng thời hoàn thiện cơ chế về bản quyền, quyền khai thác và chia sẻ học liệu.

Cùng với đó, cần thí điểm cơ chế công nhận kết quả học tập liên trường. Khi sinh viên hoàn thành một học phần tại một cơ sở đào tạo và đáp ứng chuẩn chương trình, kết quả đó cần từng bước được công nhận tại cơ sở khác theo những tiêu chí thống nhất. Nếu làm được bốn vấn đề này, Thông tư 62 sẽ không chỉ tạo ra một kho giáo trình số, mà có thể trở thành một trong những nền tảng để xây dựng hệ sinh thái giáo dục đại học số quốc gia.

“Tôi nghĩ đây mới là giá trị lớn nhất mà chuyển đổi số giáo dục cần hướng tới: dữ liệu phải có khả năng đi cùng người học, học liệu phải có khả năng đi cùng chương trình và kết quả học tập phải có khả năng được công nhận ở nhiều môi trường đào tạo khác nhau”, ông Quỳnh nhận định.

PGS.TS Nguyễn Vũ Quỳnh nhận định, chuyển đổi số không chỉ là đưa giáo trình từ bản giấy lên môi trường số, mà quan trọng hơn là xây dựng một hệ sinh thái học liệu có cấu trúc, có khả năng cập nhật, khai thác và chia sẻ. Thời gian qua, Trường Đại học Lạc Hồng từng bước xây dựng hệ thống học tập số thông qua LMS, phát triển học liệu điện tử và ứng dụng AI hỗ trợ giảng viên, sinh viên. Một số học liệu có giá trị cao được hỗ trợ bởi Trường Đại học Bang Arizona (Mỹ).


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
  • :
  • :