A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn: Cuộc đời từ trang sách đến thước phim

Hay tin đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn qua đời, nhà văn Trần Nhã Thụy nhớ mãi một điều: Anh Sơn rất yêu văn chương.

Từ trái qua: Nhà văn Trần Thuỳ Mai, diễn viên Hồng Ánh và đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn.

Từ trái qua: Nhà văn Trần Thuỳ Mai, diễn viên Hồng Ánh và đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn.

Từ trang sách đượm nghĩa tình của Đoàn Giỏi, Phùng Quán cho đến Trần Thùy Mai, đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn đã có một hành trình tài hoa biến văn học thành những tác phẩm điện ảnh mang đời sống độc lập, khắc sâu vào tâm trí nhiều thế hệ khán giả.

Hay tin đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn qua đời, nhà văn Trần Nhã Thụy nhớ mãi một điều: Anh Sơn rất yêu văn chương. Ông thường gọi điện hỏi bạn về cuốn sách này, tác giả nọ; đọc nhiều, mê phim, từng sưu tầm những đĩa DVD phim hay, kể cả những bộ phim Iran ít người biết. Có phim thú vị, ông nhắn bạn ghé căn hộ nhỏ trên đường Cao Thắng lấy về xem; đôi khi, hai người hẹn nhau cà phê sáng quanh khu nhà thờ Kỳ Đồng.

Những chi tiết bình dị ấy gợi ra một chân dung đáng nhớ về Nguyễn Vinh Sơn: Một đạo diễn không chỉ làm phim bằng nghề nghiệp, mà còn sống trong thế giới của sách và điện ảnh bằng sự say mê bền bỉ.

Có lẽ, muốn hiểu vì sao Đất phương Nam, Tuổi thơ dữ dội hay Trăng nơi đáy giếng có thể ở lại lâu trong ký ức người xem, cần bắt đầu từ tình yêu ấy. Với Nguyễn Vinh Sơn, văn chương không dừng lại ở trang sách. Nó tiếp tục tìm một đời sống khác qua hình ảnh, âm thanh và những số phận con người trên màn ảnh.

Khi trang sách trở thành thế giới điện ảnh

Với Nguyễn Vinh Sơn, chuyển thể văn học dường như bắt đầu từ một hành trình sâu hơn việc lựa chọn kịch bản: Hành trình của người đọc tìm cách tái hiện thế giới từng in dấu trong tâm trí mình.

Đất rừng phương Nam của nhà văn Đoàn Giỏi là một tác phẩm như thế. Cuốn sách mở ra trước mắt người đọc miền đất phương Nam rộng lớn, hoang sơ mà giàu nghĩa tình, nơi những phận người bình dị hiện lên giữa biến động của lịch sử.

Khi chuyển thể thành phim truyền hình Đất phương Nam, Nguyễn Vinh Sơn không chỉ kể lại cuộc phiêu lưu của cậu bé An. Ông dựng nên một không gian nghệ thuật có sức sống riêng: Những dòng sông, cánh rừng, xóm làng, những cuộc gặp gỡ và chia lìa, những con người lam lũ nhưng hào sảng, nghĩa tình. An, thằng Cò, bác Ba Bắt Rắn, Võ Tòng… bước ra từ trang sách để trở thành những gương mặt thân thuộc với nhiều thế hệ khán giả.

Sức sống của bộ phim còn nằm ở những điều khó có thể đo đếm bằng cốt truyện. Đó là không khí của một vùng đất, là giọng nói, dáng đi, cách con người đối đãi với nhau; là cảm giác vừa phiêu lưu, vừa ấm áp mà tác phẩm để lại. Ca khúc Bài ca đất phương Nam hòa vào thế giới ấy, góp phần tạo nên một miền ký ức văn hóa vượt ra ngoài khuôn khổ bộ phim.

Từ tác phẩm văn học đến phim ảnh luôn có một khoảng cách cần được vượt qua. Ngôn từ có khả năng đi sâu vào suy nghĩ, miêu tả những chuyển động tinh vi của tâm hồn; điện ảnh lại phải tìm cách biểu đạt bằng hình ảnh, âm thanh, ánh sáng, nhịp điệu và diễn xuất. Người đạo diễn không thể chỉ minh họa những gì nhà văn đã viết. Họ cần tìm ra cách kể bằng ngôn ngữ của mình mà vẫn giữ được phần cốt lõi của nguyên tác.

Ở Đất phương Nam, Nguyễn Vinh Sơn đã làm được điều đó. Bộ phim có đời sống độc lập, nhưng không đánh mất căn cốt của thế giới Đoàn Giỏi. Người xem có thể nhớ những cảnh phim cụ thể, song phía sau các cảnh phim vẫn là tình yêu quê hương, lòng nghĩa hiệp và sức sống bền bỉ của con người Nam Bộ mà cuốn sách đã khơi dậy.

Ba tác phẩm, một mối quan tâm đến con người

nguyen-vinh-son.jpg

Đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn.

Nếu Đất phương Nam mở ra một thế giới rộng lớn, giàu chất phiêu lưu và nghĩa tình, thì Tuổi thơ dữ dội, chuyển thể từ tiểu thuyết của Phùng Quán, lại đưa người xem đến gần hơn với những đứa trẻ trong chiến tranh.

Ở đó, lòng dũng cảm không xóa đi nỗi sợ hãi; lý tưởng không khiến tuổi thơ thôi cần được chở che. Những em bé tham gia kháng chiến vừa có sự gan góc của người chiến sĩ, vừa mang những yếu mềm, bồng bột và khát vọng rất đỗi trẻ thơ.

Chính sự đan xen ấy làm nên sức lay động của câu chuyện. Các nhân vật không chỉ được nhớ đến bởi những hành động anh hùng mà còn bởi vẻ hồn nhiên, những tình cảm trong trẻo và những mất mát quá lớn so với tuổi đời. Khi đặt số phận trẻ thơ giữa hoàn cảnh khốc liệt của chiến tranh, bộ phim chạm đến một câu hỏi không cũ: Điều gì khiến con người có thể sống can trường, và cái giá của sự can trường ấy là gì?

Đến Trăng nơi đáy giếng, chuyển thể từ truyện ngắn của Trần Thùy Mai, thế giới nghệ thuật lại thu hẹp vào một không gian khác: Nếp sống truyền thống, những ràng buộc vô hình và bi kịch âm thầm của người phụ nữ.

Nhân vật Hạnh sống trong những chuẩn mực mà chị tin tưởng, cố gắng gìn giữ một mái ấm theo cách mình cho là đúng. Nhưng càng nhẫn nhịn và tận tụy, chị càng bị đẩy sâu vào cô độc.

Nếu hai tác phẩm trước có những hành trình, biến cố và thử thách hiện ra rõ nét, Trăng nơi đáy giếng lắng vào những chuyển động khó nhìn thấy của tâm hồn. Nỗi đau không nhất thiết được báo hiệu bằng tiếng khóc hay những xung đột dữ dội.

Nó có thể ẩn trong một thói quen, một sự im lặng, một niềm tin không còn tìm được chỗ dựa. Bối cảnh Huế với vẻ trầm mặc, cổ kính góp phần tạo nên sắc thái riêng cho câu chuyện, đồng thời làm nổi bật khoảng cách giữa vẻ yên ổn bên ngoài và những đổ vỡ bên trong.

Ba bộ phim, ba thế giới khác nhau, nhưng có thể nhận ra một mối quan tâm xuyên suốt trong cách Nguyễn Vinh Sơn tiếp cận văn học: Nhìn con người từ những số phận cụ thể, chú ý đến vẻ đẹp và nỗi đau nằm sau những điều tưởng như bình thường. Ông không chỉ tìm ở tác phẩm nguồn chất liệu để kể chuyện. Điều đáng kể hơn là cách ông nhận ra trong đó những thân phận có khả năng chạm tới người xem ở những thời điểm khác nhau.

Dấu ấn riêng trong dòng phim chuyển thể

Điện ảnh thế giới từng có nhiều đạo diễn tạo dấu ấn lớn khi chuyển thể văn học. Akira Kurosawa đưa những xung đột trong kịch Shakespeare vào thế giới điện ảnh phương Đông; Francis Ford Coppola tạo nên The Godfather từ tiểu thuyết của Mario Puzo.

Những bộ phim ấy cho thấy tác phẩm chuyển thể có thể trở thành một sáng tạo độc lập, miễn là người làm phim tìm được hình thức biểu đạt phù hợp với tinh thần của chất liệu ban đầu.

Nguyễn Vinh Sơn cũng đi theo con đường ấy, nhưng dấu ấn của ông được tạo nên từ những lựa chọn và mối quan tâm riêng. Ông không bó hẹp mình trong một kiểu truyện hay một sắc thái cảm xúc.

Từ miền sông nước phương Nam đến tuổi thơ giữa chiến tranh, rồi không gian nội tâm đầy day dứt của người phụ nữ xứ Huế, mỗi tác phẩm đòi hỏi một cách kể khác nhau. Điểm nối giữa chúng không nằm ở sự đồng nhất về phong cách, mà ở khả năng lắng nghe thế giới văn học và tìm ra nhịp điệu điện ảnh tương ứng.

Điều ấy cũng giúp lý giải vì sao những bộ phim của ông không chỉ có ý nghĩa trong thời điểm ra đời. Khán giả có thể trở lại Đất phương Nam để tìm lại một miền tuổi thơ; xem Tuổi thơ dữ dội để hiểu hơn những mất mát của một thế hệ; hoặc tìm đến Trăng nơi đáy giếng để suy ngẫm về những ràng buộc có thể làm tổn thương con người ngay trong đời sống gia đình. Mỗi lần xem lại, tác phẩm có thể mở ra một tầng nghĩa khác, bởi người xem đã đổi thay và những câu hỏi về con người vẫn còn nguyên sức nặng.

Dấu ấn của một đạo diễn chuyển thể không chỉ nằm ở mức độ trung thành với nguyên tác, cũng không đơn thuần được quyết định bởi sự nổi tiếng của bộ phim.

Điều quan trọng là tác phẩm có tạo được đời sống riêng hay không, có khiến người xem rung động bằng ngôn ngữ điện ảnh và vẫn giữ được mối liên hệ sâu sắc với nguồn mạch văn chương hay không.

Nhìn từ tiêu chí ấy, những bộ phim của Nguyễn Vinh Sơn là một phần đáng nhớ trong hành trình đưa văn học Việt Nam đến gần hơn với công chúng.

Sự ra đi của một đạo diễn khép lại hành trình sáng tạo của một con người, nhưng không thể khép lại đời sống của những tác phẩm đã được trao cho khán giả. Với Nguyễn Vinh Sơn, di sản ấy nằm trong những nhân vật còn được nhắc nhớ, những khuôn hình còn gợi xúc động và cả những cuốn sách có thể được mở lại sau khi bộ phim kết thúc.

Có những bộ phim khiến người ta nhớ đến đạo diễn. Cũng có những bộ phim khiến người ta muốn tìm đọc lại cuốn sách đã sinh ra chúng. Ở Nguyễn Vinh Sơn, hai điều ấy gặp nhau.

Và có lẽ, đó là một trong những cách bền lâu nhất để người làm phim tiếp tục hiện diện trong lòng công chúng: Qua những câu chuyện đã bước ra khỏi trang sách, sống một đời riêng trên màn ảnh rồi trở về, khơi dậy tình yêu đọc sách trong những người từng xem phim.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
  • :
  • :