Tạo dựng niềm tin cho nhà đầu tư: Sức hút mới của Việt Nam trong “cuộc đua” FDI
Trong giai đoạn tới, lợi thế cạnh tranh của Việt Nam sẽ không còn đến từ mức ưu đãi cao hơn các quốc gia khác, mà đến từ khả năng tạo dựng niềm tin cho nhà đầu tư.
Sau hơn 3 thập kỷ mở cửa, Việt Nam đã trở thành điểm đến đầy hứa hẹn của các “ông lớn” nước ngoài. Theo số liệu mới nhất của Cục Thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2026, dòng vốn FDI thực hiện đạt 13,03 tỷ USD, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước. Đặc biệt, dòng vốn FDI đăng ký trong 6 tháng ước đạt 34,65 tỷ USD, tăng tới 61% so với cùng kỳ năm ngoái.
Cần một hệ sinh thái FDI
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số giai đoạn 2026 - 2030, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục được kỳ vọng trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế.
Việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW (Nghị quyết 10) về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không chỉ mở ra một chương mới trong chiến lược thu hút FDI, mà còn đánh dấu sự chuyển dịch từ tư duy “thu hút vốn” sang “phát triển hệ sinh thái FDI chất lượng cao”, lấy chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo, liên kết với doanh nghiệp trong nước và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia làm trọng tâm.
Ông Ngô Vĩnh Bạch Dương, Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cho biết: Sự chuyển dịch mà Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt ra đánh dấu một bước trưởng thành trong tư duy kinh tế học thể chế.
“Nghị quyết không phủ nhận hay từ bỏ hình thái FDI truyền thống với các nhà máy, chuyển giao công nghệ hay chuỗi cung ứng. Đúng hơn, đây là sự mở rộng lăng kính quản trị nhà nước: Từ việc đếm số lượng dự án FDI đơn lẻ sang việc thiết lập một hệ sinh thái kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài bao trùm”, ông Dương nói.

Sau hơn 3 thập kỷ mở cửa, Việt Nam đã trở thành điểm đến đầy hứa hẹn của các “ông lớn” nước ngoài. Ảnh: Moit.
Phân tích rõ hơn về vấn đề này, ông cho hay: Hệ sinh thái này là sự cộng sinh của FDI trực tiếp, dòng vốn gián tiếp (FII), các thương vụ M&A, các trung tâm tài chính và hạ tầng đổi mới sáng tạo.
Tuy nhiên, văn kiện cũng thẳng thắn nhận diện thực tế: Dòng vốn gián tiếp của ta còn khiêm tốn, hoạt động góp vốn, M&A của các quỹ đầu tư và định chế tài chính toàn cầu còn hạn chế, trong khi năng lực quản lý nhà nước với khu vực này lại chưa theo kịp.
Do đó, để kiến tạo hệ sinh thái như kỳ vọng, ông Dương cho rằng, hệ thống pháp luật không thể duy trì tư duy “cấp phép dự án” (project-by-project approval) thuần túy, thay vào đó pháp luật phải chuyển sang vai trò thiết lập các “chuẩn mực kết nối”.
Nói cách khác, thể chế phải tạo ra những hành lang thông suốt cho phép dòng vốn tài chính có thể rót vào và cộng hưởng với khối FDI sản xuất cùng các doanh nghiệp nội địa, nhưng đồng thời phải thiết kế sẵn các bộ lọc rủi ro vĩ mô.
“Mục đích của toàn bộ nỗ lực này không chỉ là gia tăng quy mô vốn, mà là kiến tạo một nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia vững chãi, nơi các thành phần kinh tế đan xen, dẫn truyền năng lực và bảo vệ lẫn nhau trước biến động toàn cầu”, ông Dương nhấn mạnh.
Cũng theo vị chuyên gia này, một điểm rất quan trọng là không nên hiểu việc mở rộng thu hút vốn qua thị trường vốn, quỹ đầu tư hay M&A như sự thay thế cho FDI sản xuất. Ngược lại, đây phải là cách làm cho khu vực FDI gắn chặt hơn với doanh nghiệp Việt Nam.
Chất lượng của dòng vốn ngoại không chỉ đo bằng số vốn đăng ký hay số thương vụ mua bán - sáp nhập, mà còn đo bằng số doanh nghiệp trong nước đủ năng lực bước vào chuỗi cung ứng, tiếp nhận chuẩn quản trị, học được công nghệ và lớn lên cùng các nhà đầu tư chiến lược.
“Nếu không nâng được năng lực hấp thụ nội địa, dòng vốn ngoại dù lớn vẫn có thể chỉ đi qua nền kinh tế, chứ chưa chắc ở lại như một năng lực phát triển”, ông Dương cho hay.
Lợi thế mới của Việt Nam
Đồng quan điểm này, ông Sử Ngọc Khương, Giám đốc cấp cao Bộ phận Tư vấn Đầu tư Savills Việt Nam cho rằng, giá trị cốt lõi của Nghị quyết không nằm ở quy mô dòng vốn đăng ký, mà ở việc định hình mô hình tăng trưởng dựa trên công nghệ, tri thức và đổi mới sáng tạo.
“Trong giai đoạn tới, câu hỏi không còn là Việt Nam thu hút được bao nhiêu vốn FDI, mà là thu hút được bao nhiêu công nghệ, bao nhiêu tri thức và bao nhiêu giá trị gia tăng cho nền kinh tế”, ông Khương nhận định.
Tuy nhiên, hiện nay, trong các quyết định đầu tư dài hạn, các tập đoàn đa quốc gia ngày càng coi trọng chất lượng thể chế, tính minh bạch của môi trường đầu tư, khả năng dự báo chính sách, hiệu quả thực thi pháp luật và mức độ bảo vệ quyền tài sản.
Đây cũng là lý do Nghị quyết 10 nhấn mạnh các cam kết bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu tài sản, bảo vệ vốn đầu tư và nguyên tắc không áp dụng hồi tố theo hướng bất lợi cho doanh nghiệp.
Ông Khương cho rằng, trong giai đoạn tới, lợi thế cạnh tranh của Việt Nam sẽ không còn đến từ mức ưu đãi cao hơn các quốc gia khác, mà đến từ khả năng tạo dựng niềm tin cho nhà đầu tư thông qua môi trường đầu tư ổn định, minh bạch và nhất quán.
Điều này càng có ý nghĩa khi trong nền kinh tế tri thức, tài sản giá trị nhất của doanh nghiệp không chỉ là nhà máy hay dây chuyền sản xuất, mà còn là công nghệ, dữ liệu, thuật toán, thương hiệu và các tài sản trí tuệ khác.
“Khi những tài sản vô hình được bảo vệ tốt hơn, các tập đoàn quốc tế sẽ có thêm cơ sở để mở rộng hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và triển khai các dự án có hàm lượng đổi mới sáng tạo cao tại Việt Nam”, ông Khương nói.




