Không chỉ là xuất khẩu được bao nhiêu, quan trọng hơn là giá trị gia tăng trong nước giữ lại
Phóng viên: Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 7 tháng năm 2026 đạt 659,58 tỷ USD, tăng 28,1% so với cùng kỳ năm trước. Bà đánh giá như thế nào về những con số này đóng góp cho nền kinh tế và cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu đang có sự thay đổi như thế nào?
![]() |
| Bà Nguyễn Thu Oanh - Trưởng ban Thống kê Dịch vụ và Giá (Cục Thống kê) |
Bà Nguyễn Thu Oanh: Có thể nói, kết quả xuất nhập khẩu 7 tháng năm 2026 là một điểm sáng của nền kinh tế, thể hiện quy mô thương mại tiếp tục được mở rộng trong bối cảnh kinh tế và thương mại thế giới còn nhiều biến động. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 659,58 tỷ USD, tăng 28,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 319,53 tỷ USD, tăng 21,7% và nhập khẩu đạt 340,05 tỷ USD, tăng 34,8%.
Trước hết, mức tăng khá cao của xuất khẩu cho thấy hoạt động sản xuất hàng hóa phục vụ thị trường quốc tế tiếp tục được mở rộng. Đáng chú ý, nhiều nhóm hàng xuất khẩu chủ lực thuộc lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn duy trì tăng trưởng tích cực. Các mặt hàng như điện tử, máy tính và linh kiện; điện thoại và linh kiện; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng xuất khẩu.
Xuất khẩu sang các thị trường chủ lực nhìn chung duy trì đà tăng cao, trong đó tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường Hoa Kỳ, Trung Quốc và EU lần lượt đạt mức tăng 23,0%, 30,7% và 17,9%, cho thấy hàng hóa Việt Nam tiếp tục khai thác được nhu cầu tại các thị trường lớn và tận dụng các quan hệ thương mại đã được thiết lập. Kết quả xuất khẩu không chỉ tạo đầu ra cho sản xuất mà còn lan tỏa sang nhiều hoạt động khác của nền kinh tế như công nghiệp chế biến, chế tạo, vận tải, logistics, kho bãi, bảo hiểm, tài chính và các dịch vụ hỗ trợ thương mại.
Bên cạnh kết quả tích cực về quy mô, tôi cho rằng cần nhìn sâu hơn vào chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng xuất khẩu.
Trong 7 tháng năm 2026, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 255,89 tỷ USD, tăng 26,4% và chiếm tới 80,1% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa, trong khi khu vực kinh tế trong nước đạt 63,64 tỷ USD, tăng 5,8% và chỉ chiếm 19,9%. Khoảng cách khá lớn về tốc độ tăng trưởng giữa hai khu vực cho thấy động lực tăng xuất khẩu hiện nay vẫn chủ yếu đến từ khu vực FDI. Đây là vấn đề cần được quan tâm nếu chúng ta muốn nâng cao tính tự chủ và tính bền vững của hoạt động xuất khẩu trong dài hạn.
Về cơ cấu hàng hóa, 7 tháng chưa cho thấy sự thay đổi lớn về cơ cấu xuất nhập khẩu. Nhóm hàng công nghiệp chế biến tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, chiếm khoảng 90,1% tổng kim ngạch xuất khẩu. Ở chiều nhập khẩu, nhóm tư liệu sản xuất chiếm tới 94,1%, chủ yếu là máy móc, thiết bị, nguyên liệu và linh kiện phục vụ sản xuất. Cơ cấu này phản ánh khá rõ đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam hiện nay. Chúng ta tham gia ngày càng sâu vào chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu, nhập khẩu phần lớn là đầu vào cho sản xuất, sau đó chế biến, lắp ráp để phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu.
Vấn đề đặt ra trong thời gian tới vì vậy không chỉ là xuất khẩu được bao nhiêu, mà quan trọng hơn là giá trị gia tăng trong nước giữ lại được bao nhiêu. Nếu tiếp tục nâng tỷ lệ nội địa hóa, phát triển công nghiệp hỗ trợ và tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp FDI thì cùng một quy mô kim ngạch xuất khẩu, đóng góp thực chất cho tăng trưởng và năng lực nội sinh của nền kinh tế sẽ lớn hơn.
Phóng viên: Trong 7 tháng qua, Việt Nam nhập siêu 20,52 tỷ USD, giá trị kim ngạch nhập khẩu lớn hơn xuất khẩu, chủ yếu là nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc. Điều này cho thấy tín hiệu gì và có tác động đa chiều đến nền kinh tế như thế nào, thưa bà?
Bà Nguyễn Thu Oanh: Theo tôi, đối với nhập siêu, điều quan trọng là không nên chỉ nhìn vào con số 20,52 tỷ USD để kết luận là tích cực hay tiêu cực, mà cần xem xét nhập khẩu tăng do đâu, nhập khẩu những mặt hàng gì và lượng hàng nhập khẩu đó sẽ được sử dụng như thế nào trong nền kinh tế.
Trong 7 tháng qua, nhập khẩu đạt 340,05 tỷ USD, tăng 34,8%, cao hơn khá nhiều so với mức tăng 21,7% của xuất khẩu. Vì vậy, cán cân thương mại hàng hóa chuyển sang nhập siêu 20,52 tỷ USD.
Tuy nhiên, có một đặc điểm rất đáng lưu ý là 94,1% tổng kim ngạch nhập khẩu là nhóm tư liệu sản xuất. Điều đó cho thấy phần lớn hàng nhập khẩu không phải là hàng tiêu dùng cuối cùng mà là máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, linh kiện và các đầu vào phục vụ sản xuất, đầu tư.
Ở góc độ này, nhập khẩu tăng có thể phản ánh nhu cầu đầu vào của nền kinh tế đang mở rộng. Doanh nghiệp nhập nguyên liệu, linh kiện để thực hiện đơn hàng; khu vực FDI nhập máy móc, thiết bị và linh kiện phục vụ các dự án mới hoặc mở rộng công suất; hoạt động đầu tư cũng làm gia tăng nhu cầu đối với máy móc, thiết bị và vật tư.
Do đó, một phần nhập siêu hiện nay có thể được nhìn nhận là nhập khẩu phục vụ tăng trưởng. Nếu lượng máy móc, nguyên liệu và linh kiện nhập khẩu này nhanh chóng được đưa vào sản xuất, tạo ra sản phẩm, giá trị gia tăng và xuất khẩu trong những tháng tiếp theo thì tác động cuối cùng đối với nền kinh tế có thể là tích cực.
Nhưng ở chiều ngược lại, nhập siêu ở mức tương đối lớn và kéo dài cũng đặt ra những vấn đề cần theo dõi.
Trước hết, xét theo phương pháp sử dụng GDP, khi nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu, xuất khẩu ròng sẽ làm giảm đóng góp vào tăng trưởng GDP nếu các cấu phần khác không bù đắp được. Vì vậy, điều quan trọng là phần nhập khẩu tăng thêm phải sớm chuyển hóa thành sản xuất, đầu tư và xuất khẩu trong nước.
Thứ hai, nhập khẩu tăng nhanh làm tăng nhu cầu ngoại tệ để thanh toán hàng hóa nhập khẩu. Trong điều kiện các nguồn cung ngoại tệ không tăng tương ứng, điều này có thể tạo thêm áp lực đối với thị trường ngoại hối và tỷ giá. Tỷ giá tăng trở lại sẽ tác động đến chi phí nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu, máy móc, thiết bị, từ đó có thể lan truyền sang chi phí sản xuất và mặt bằng giá trong nước.
Thứ ba, diễn biến này tiếp tục cho thấy một vấn đề cơ cấu của nền kinh tế là sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam còn phụ thuộc khá lớn vào nguồn nguyên liệu, linh kiện và máy móc nhập khẩu. Đặc biệt, khu vực FDI vừa chiếm tỷ trọng rất lớn trong xuất khẩu, vừa có nhu cầu nhập khẩu đầu vào rất lớn. Nếu không nâng được tỷ lệ nội địa hóa thì kim ngạch xuất khẩu có thể tăng rất nhanh nhưng giá trị gia tăng thực sự được tạo ra và giữ lại trong nền kinh tế chưa tăng tương xứng.
Vì vậy, theo tôi, nhập siêu 7 tháng hiện nay chưa nên nhìn nhận đơn thuần là một tín hiệu đáng lo ngại, nhưng đây là diễn biến cần được theo dõi chặt chẽ. Điều quan trọng nhất trong những tháng tới là phải xem lượng nhập khẩu tăng mạnh hiện nay có chuyển hóa thành sản lượng, đầu tư, giá trị gia tăng và xuất khẩu hay không.
Nếu sự chuyển hóa đó diễn ra tốt, nhập khẩu hôm nay có thể tạo năng lực sản xuất và xuất khẩu cho những tháng tiếp theo. Ngược lại, nếu nhập khẩu tiếp tục tăng nhanh nhưng không tạo ra năng lực sản xuất mới và xuất khẩu không tăng tương ứng thì nhập siêu kéo dài sẽ trở thành yếu tố bất lợi đối với tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô.
![]() |
| 7 tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 659,58 tỷ USD, tăng 28,1% so với cùng kỳ năm trước. |
Phóng viên: Xuất khẩu hàng hóa được xác định là một trong những động lực quan trọng đóng góp mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Trong bối cảnh nền kinh tế đang nhập siêu, chúng ta cần có giải pháp nào để tăng giá trị xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu như tinh thần chỉ đạo mới đây của Phó Thủ tướng thường trực Phạm Gia Túc tại Hội nghị rà soát các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu, kiểm soát nhập siêu hôm 13/8/2026, thưa bà?
Bà Nguyễn Thu Oanh: Tôi cho rằng trước hết cần xác định rõ rằng thúc đẩy xuất khẩu và kiểm soát nhập siêu không đồng nghĩa với hạn chế nhập khẩu một cách cơ học.
Như tôi đã phân tích, 94,1% kim ngạch nhập khẩu 7 tháng qua là tư liệu sản xuất. Nếu chúng ta hạn chế máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu và linh kiện cần thiết cho sản xuất chỉ nhằm giảm con số nhập siêu thì có thể tác động ngược trở lại chính năng lực sản xuất và xuất khẩu của nền kinh tế.
Vì vậy, bài toán đặt ra phải là tăng xuất khẩu có chất lượng, đồng thời quản lý nhập khẩu hiệu quả và từng bước giảm sự phụ thuộc vào đầu vào nhập khẩu mà trong nước có khả năng sản xuất.
Trước hết, cần tiếp tục mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, tận dụng hiệu quả hơn các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết. Trong bối cảnh thương mại thế giới ngày càng xuất hiện nhiều rào cản kỹ thuật, yêu cầu về môi trường, truy xuất nguồn gốc và xuất xứ, doanh nghiệp Việt Nam phải nâng cao khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường nhập khẩu. Đa dạng hóa thị trường cũng là giải pháp quan trọng để giảm rủi ro khi phụ thuộc quá lớn vào một số thị trường.
Thứ hai, cần chuyển mạnh hơn từ mục tiêu tăng kim ngạch xuất khẩu sang tăng giá trị gia tăng của xuất khẩu. Hiện nhóm hàng công nghiệp chế biến chiếm trên 90% kim ngạch xuất khẩu, nhưng nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực vẫn có hàm lượng nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu lớn. Vì vậy, phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng tỷ lệ nội địa hóa và tăng khả năng cung ứng của doanh nghiệp trong nước cho các tập đoàn FDI phải được xem là giải pháp căn cơ. Nếu doanh nghiệp Việt Nam sản xuất được nhiều hơn những linh kiện, nguyên liệu mà hiện nay chúng ta phải nhập khẩu thì hiệu quả đạt được là kép: vừa giảm nhập khẩu, vừa làm tăng phần giá trị trong nước trong hàng hóa xuất khẩu.
Thứ ba, cần đặc biệt quan tâm nâng cao năng lực của khu vực doanh nghiệp trong nước. Hiện khu vực FDI chiếm 80,1% kim ngạch xuất khẩu, trong khi khu vực trong nước chỉ chiếm 19,9% và tốc độ tăng xuất khẩu thấp hơn rất nhiều. Nếu tăng trưởng xuất khẩu tiếp tục chủ yếu dựa vào khu vực FDI thì quy mô thương mại có thể tăng nhanh nhưng tính tự chủ của nền kinh tế chưa được cải thiện tương ứng. Do đó, cần tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, từ cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện đến logistics, thiết kế, thương hiệu và phân phối.
Thứ tư, phải tiếp tục giảm chi phí cho doanh nghiệp xuất khẩu, đặc biệt là chi phí logistics, vận tải, kho bãi, thời gian và thủ tục thông quan. Trong điều kiện cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, giảm được chi phí chính là tăng thêm khả năng cạnh tranh cho hàng hóa Việt Nam mà không nhất thiết phải cạnh tranh bằng việc giảm giá.
Thứ năm, đối với nhập khẩu, theo tôi cần kiểm soát có trọng tâm chứ không kiểm soát dàn đều. Cần rà soát những ngành hàng và doanh nghiệp có kim ngạch nhập khẩu rất lớn để xác định rõ nhập khẩu đó phục vụ sản xuất, đầu tư, xuất khẩu hay chủ yếu phục vụ tiêu dùng trong nước. Đối với máy móc, công nghệ và nguyên liệu mà trong nước chưa sản xuất được thì nhập khẩu vẫn cần thiết. Nhưng đối với những sản phẩm trong nước đã có năng lực sản xuất và có khả năng cạnh tranh thì cần có chính sách thúc đẩy sản xuất trong nước để từng bước thay thế nhập khẩu.
Cuối cùng, tôi cho rằng cần nhìn xuất nhập khẩu trong mối quan hệ với toàn bộ nền kinh tế, chứ không chỉ đặt mục tiêu đưa cán cân thương mại từ nhập siêu trở lại xuất siêu bằng mọi giá. Điều quan trọng hơn là mỗi đồng nhập khẩu phải góp phần tạo ra nhiều hơn sản lượng và giá trị gia tăng trong nước, đồng thời mỗi đồng xuất khẩu phải ngày càng chứa nhiều hơn giá trị do doanh nghiệp và người lao động Việt Nam tạo ra.
Nếu làm được điều đó thì xuất khẩu không chỉ tăng về quy mô, nhập siêu cũng không chỉ được kiểm soát về con số, mà quan trọng hơn là chất lượng tăng trưởng, năng lực tự chủ và sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam sẽ được nâng lên.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn Bà!







