Gần 16,7 tỷ USD xuất khẩu nông lâm thủy sản 3 tháng đầu năm
3 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu nông lâm thuỷ sản đạt 16,69 tỷ USD.
![]() |
| Toàn cảnh buổi họp báo thường kỳ. |
Ngày 1/4, tại buổi họp báo thường kỳ, Bộ NN&MT thông tin về kết quả của ngành trong 3 tháng đầu năm.
Tháng 3/2026, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản ước đạt 6,02 tỷ USD, tăng mạnh 47,8% so với tháng trước.
Xét theo từng nhóm hàng, lĩnh vực nông sản tiếp tục giữ vai trò chủ lực với giá trị xuất khẩu đạt 8,93 tỷ USD, tăng 4,1%. Xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi ghi nhận mức tăng trưởng cao nhất, đạt 197,7 triệu USD, tăng tới 54,3%.

Bộ NN&MT họp báo thông tin về kết quả của ngành trong 3 tháng đầu năm.
Ngành Thủy sản duy trì đà tăng trưởng khá, với kim ngạch đạt 2,62 tỷ USD, tăng 13,3%; Lâm sản đạt 4,11 tỷ USD, giảm 2,4%, phản ánh những khó khăn của ngành gỗ trước sự suy giảm nhu cầu tại một số thị trường lớn.
Giá trị xuất khẩu thủy sản tháng 3/2026 ước đạt 900 triệu USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu ngành hàng thủy sản 3 tháng đầu năm 2026 đạt 2,62 tỷ USD, tăng 13,3% so với cùng kỳ năm 2025.
Trung Quốc, Nhật Bản và Hoa Kỳ là 3 thị trường tiêu thụ hàng thủy sản lớn nhất của Việt Nam, chiếm thị phần lần lượt là 28,5%, 13,6% và 12,2%.
So với cùng kỳ năm trước, giá trị xuất khẩu hàng thủy sản sang thị trường Trung Quốc tăng 58,5%, thị trường Nhật Bản tăng 4,8%, trong khi thị trường Hoa Kỳ giảm 2,9%.
Rau quả là điểm sáng nổi bật với tổng giá trị xuất khẩu đạt 1,54 tỷ USD, tăng tới 32,1% so với cùng kỳ năm trước. Trung Quốc vẫn là thị trường chủ lực, chiếm 54% tổng giá trị xuất khẩu rau quả. Tiếp đến là Hoa Kỳ và Hàn Quốc với tỷ trọng giá trị xuất khẩu lần lượt là 8% và 4,3%.
Giá trị xuất khẩu hàng rau quả 2 tháng đầu năm 2026 sang thị trường Trung Quốc tăng 76,2%, Hoa Kỳ tăng 21,4%, Hàn Quốc tăng 4,1%.

Thứ trưởng Bộ NN&MT Phùng Đức Tiến tại buổi họp báo.
Nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, giá trị xuất khẩu hàng rau quả tăng mạnh nhất ở thị trường Campuchia với mức tăng 3,7 lần và giảm mạnh nhất ở thị trường Thái Lan với mức giảm 28,1%.
Mặt hàng hạt tiêu cũng ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng với lượng xuất khẩu đạt 64,6 nghìn tấn và giá trị đạt 417,5 triệu USD, tăng lần lượt 36,8% và 28,8%. Dù vậy, giá xuất khẩu bình quân vẫn giảm 5,9%, phản ánh áp lực cạnh tranh và nguồn cung trên thị trường.
Tháng 3/2026, xuất khẩu cà phê đạt 210 nghìn tấn, trị giá 956,2 triệu USD. Lũy kế 3 tháng đầu năm, khối lượng xuất khẩu đạt 577,3 nghìn tấn, tăng 12,6%, nhưng giá trị chỉ đạt 2,71 tỷ USD, giảm 6,4%.
Trong 3 tháng đầu năm, Việt Nam xuất khẩu 2,3 triệu tấn gạo trị giá 1,11 tỷ USD. Dù khối lượng tăng nhẹ 0,2%, giá trị lại giảm 7,8% do giá xuất khẩu bình quân giảm 8%, còn 480,1 USD/tấn. Philippines vẫn là thị trường lớn nhất, chiếm hơn một nửa tổng lượng xuất khẩu gạo của Việt Nam. Xuất khẩu sang Trung Quốc tăng mạnh 2,5 lần, trong khi thị trường Ghana giảm sâu.
3 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu cao su đạt 411,2 nghìn tấn, trị giá 751,8 triệu USD, tăng 8% về lượng nhưng chỉ tăng 2,4% về giá trị. Giá xuất khẩu bình quân giảm 5,1%, xuống còn 1.828,3 USD/tấn.
Trung Quốc tiếp tục là thị trường tiêu thụ cao su lớn nhất, chiếm tới 70% thị phần. Nhưng xuất khẩu sang thị trường này giảm 8,5%, trong khi các thị trường như Indonesia và Ấn Độ lại tăng mạnh.




