A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Thu hồi đất: Không thể coi hoàn thành bồi thường là hoàn thành trách nhiệm

Tại phiên thảo luận ở hội trường về dự án Luật Đất đai (sửa đổi) sáng 29/10, các đại biểu Quốc hội tập trung góp ý về chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và phục hồi sinh kế cho người có đất bị thu hồi.

Thu hồi đất: Không thể coi hoàn thành bồi thường là hoàn thành trách nhiệm
Đại biểu Lê Hữu Trí (Đại biểu Quốc hội Khánh Hòa) cho rằng, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và bảo đảm quyền lợi của người có đất bị thu hồi là vấn đề tác động trực tiếp đến đời sống nhân dân. Ảnh: VPQH

Bồi thường, tái định cư phải gắn với bảo đảm sinh kế lâu dài

Tại phiên thảo luận ở hội trường về dự án Luật Đất đai (sửa đổi) sáng 29/10, các đại biểu Quốc hội tập trung góp ý về chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và phục hồi sinh kế cho người có đất bị thu hồi. Các ý kiến nhấn mạnh yêu cầu cụ thể hóa tiêu chí về nơi ở mới, bảo đảm điều kiện sống tương đương hoặc tốt hơn nơi ở cũ, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong quá trình thực hiện và theo dõi kết quả phục hồi sinh kế.

Đại biểu Lê Hữu Trí (Đại biểu Quốc hội Khánh Hòa) cho rằng, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và bảo đảm quyền lợi của người có đất bị thu hồi là vấn đề tác động trực tiếp đến đời sống nhân dân, đồng thời là lĩnh vực phát sinh nhiều vụ khiếu nại, khiếu kiện phức tạp, kéo dài.

Từ thực tế đó, đại biểu đề nghị cụ thể hóa tiêu chí nơi ở mới bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ thành những tiêu chuẩn có thể kiểm chứng, bao gồm hạ tầng, điều kiện sinh hoạt, khả năng tiếp cận dịch vụ công, việc làm và sinh kế. Khu tái định cư phải được chuẩn bị đầy đủ trước khi tổ chức di dời người dân.

Đối với đất nông nghiệp nằm xen kẽ trong khu dân cư, có nguồn gốc sử dụng ổn định qua nhiều thế hệ, đại biểu đề nghị nghiên cứu cơ chế bồi thường phù hợp với nguồn gốc đất, quá trình sử dụng và tác động thực tế của việc thu hồi đất.

“Không thể chỉ nhìn vào tên gọi, mục đích sử dụng đất trên giấy tờ mà chưa đánh giá đầy đủ hoàn cảnh và nguy cơ mất sinh kế của người dân”, đại biểu Lê Hữu Trí nhấn mạnh.

Theo đại biểu, thực tiễn cho thấy khi đất bị thu hồi để thực hiện các dự án, phần giá trị gia tăng sau đầu tư có thể rất lớn, trong khi người dân mất đất lại gặp khó khăn trong việc tạo lập nơi ở và sinh kế mới. Nếu chính sách không giải quyết thỏa đáng sự chênh lệch lợi ích này thì khó tạo được sự đồng thuận trong xã hội.

Vì vậy, đại biểu đề nghị quy định rõ quyền của người sử dụng đất trong thời gian dự án mới được chấp thuận chủ trương đầu tư nhưng chưa có quyết định thu hồi đất. Đồng thời, cần nghiên cứu các cơ chế bồi thường, hỗ trợ bằng đất ở, nhà ở hoặc hình thức khác phù hợp với điều kiện thực tế và quy định của pháp luật.

Đại biểu Lê Hữu Trí khẳng định, thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội phải đi đôi với bảo đảm cuộc sống của người dân. Theo đại biểu, “không thể coi việc hoàn thành bồi thường là hoàn thành trách nhiệm nếu người dân vẫn chưa có nơi ở ổn định và chưa có điều kiện tạo lập sinh kế lâu dài”.

Cùng quan tâm đến vấn đề này, đại biểu Dương Khắc Mai (Đại biểu Quốc hội Lâm Đồng) đề cập nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ và địa điểm tái định cư tại khoản 5 Điều 44, điểm b khoản 4 Điều 47 của dự thảo Luật.

Theo đại biểu, khoản 5 Điều 44 xác định trách nhiệm bảo đảm sinh kế, trong khi điểm b khoản 4 Điều 47 cho phép bố trí tái định cư tại địa bàn khác có điều kiện tương đương.

Đại biểu thống nhất với định hướng được nêu trong báo cáo giải trình về việc chuyển từ bồi thường tài sản sang tái thiết cuộc sống, bảo đảm hạ tầng, điều kiện sinh hoạt phù hợp với phong tục và ưu tiên tái định cư tại chỗ.

Tuy nhiên, đại biểu đề nghị làm rõ nguyên tắc đánh giá điều kiện tương đương. Việc đánh giá không nên chỉ căn cứ vào hạ tầng và nhà ở, mà còn phải tính đến khả năng tiếp cận đất sản xuất, việc làm, trường học, y tế và điều kiện sinh hoạt cộng đồng.

Đại biểu kiến nghị giao Chính phủ quy định các tiêu chí đánh giá, đồng thời xác định trách nhiệm theo dõi kết quả phục hồi sinh kế sau tái định cư.

Theo đại biểu Dương Khắc Mai, nếu thiếu tiêu chí đo lường và đầu mối chịu trách nhiệm, người dân có thể có chỗ ở mới nhưng lại mất nguồn sống. Nguy cơ này đặc biệt đáng lưu ý tại địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nơi sinh kế của người dân có thể gắn chặt với đất sản xuất và điều kiện sinh hoạt tại địa phương.

Đánh giá chính sách bằng khả năng phục hồi cuộc sống của người dân

Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Đại biểu Quốc hội Hải Phòng) cho rằng, dự thảo Luật đã quan tâm hơn đến yêu cầu ổn định đời sống, sản xuất, kinh doanh và phục hồi sinh kế cho người có đất bị thu hồi.

Cụ thể, Điều 46 quy định việc hỗ trợ nhằm bảo đảm chỗ ở, ổn định đời sống và phục hồi sinh kế; Điều 47 đặt ra các yêu cầu về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội của khu tái định cư; Điều 48 quy định các trường hợp được bố trí tái định cư và cơ chế hỗ trợ suất tái định cư tối thiểu.

Đại biểu đánh giá đây là những quy định cần thiết, song cho rằng dự thảo vẫn cần làm rõ hơn trách nhiệm bảo đảm kết quả thực hiện chính sách, thay vì chỉ dừng lại ở việc xác định các hình thức hỗ trợ.

Theo đại biểu, khoản 2 Điều 46 đã yêu cầu điều tra, xác định thu nhập từ việc sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và lấy ý kiến người có đất bị thu hồi trước khi phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Tuy nhiên, việc xác định thu nhập trước khi thu hồi đất mới chỉ phản ánh điều kiện sống ban đầu của người dân.

“Vấn đề quan trọng hơn là sau khi thu hồi đất, đời sống của họ sẽ như thế nào”, đại biểu đặt vấn đề

Thu hồi đất: Không thể coi hoàn thành bồi thường là hoàn thành trách nhiệm
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Đại biểu Quốc hội Hải Phòng) cho rằng, dự thảo Luật đã quan tâm hơn đến yêu cầu ổn định đời sống, sản xuất, kinh doanh và phục hồi sinh kế cho người có đất bị thu hồi. Ảnh: VPQH

Đại biểu dẫn ra những tình huống có thể xảy ra trong thực tế: Một hộ nông dân được bố trí chỗ ở mới nhưng không còn đất sản xuất; một hộ kinh doanh được bồi thường về đất và tài sản nhưng mất địa điểm tạo ra nguồn thu nhập chính; hoặc một người lao động lớn tuổi được hỗ trợ chuyển đổi nghề nhưng không còn khả năng tìm được việc làm phù hợp.

Trong những trường hợp này, việc hoàn thành chi trả bồi thường và bố trí tái định cư chưa đồng nghĩa với việc người dân đã ổn định được cuộc sống.

“Tôi cho rằng, chính sách thu hồi đất phải được đánh giá không chỉ bằng tiến độ giải phóng mặt bằng mà còn bằng khả năng ổn định đời sống và phục hồi sinh kế của những người bị ảnh hưởng”, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga nhấn mạnh.

Từ đó, đại biểu đề nghị bổ sung vào Điều 46 các nguyên tắc cơ bản nhằm bảo đảm chính sách hỗ trợ đi vào thực chất.

Trước hết, phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cần xác định những nhóm người có nguy cơ mất nguồn sinh kế chủ yếu sau khi thu hồi đất để có biện pháp hỗ trợ phù hợp. Trong đó, cần đặc biệt quan tâm đến hộ nghèo, người cao tuổi, người khuyết tật và người trực tiếp sản xuất nông nghiệp.

Đồng thời, cần quy định rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc tổ chức thực hiện, theo dõi và đánh giá kết quả phục hồi sinh kế sau thu hồi đất.

Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga cho rằng, không thể quy định cứng một mức thu nhập hay một thời hạn hỗ trợ chung cho mọi trường hợp, bởi điều kiện kinh tế - xã hội giữa các địa phương rất khác nhau. Những nội dung cụ thể có thể giao Chính phủ quy định.

Theo đại biểu, nguyên tắc về trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện chính sách phục hồi sinh kế cần được xác lập ngay trong Luật. Đây là cơ sở để tránh tình trạng chính sách hỗ trợ đã được phê duyệt nhưng quá trình thực hiện thiếu nguồn lực, thiếu theo dõi và không xác định rõ trách nhiệm.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
  • :
  • :
Video clip