A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Ngành Y, Luật trước 'cuộc sát hạch' mới về chất lượng đào tạo

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư về chuẩn cơ sở giáo dục đại học, trong đó lần đầu tiên đề xuất bộ tiêu chí riêng đối với các trường đào tạo lĩnh vực Sức khỏe và Pháp luật nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, gắn với yêu cầu hành nghề thực tiễn

Theo dự thảo được công bố mới đây, bên cạnh các tiêu chuẩn chung áp dụng cho toàn hệ thống giáo dục đại học, các cơ sở đào tạo ngành Y, Dược, Điều dưỡng, Luật... sẽ phải đáp ứng thêm nhiều chỉ số đặc thù liên quan đến đội ngũ giảng viên, cơ sở thực hành và hoạt động nghề nghiệp của người học.

Đối với lĩnh vực Sức khỏe, Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất 100% sinh viên phải được bố trí cơ sở thực hành; ít nhất 80% giảng viên thực hành hoặc giảng viên lâm sàng có chứng chỉ hành nghề; tối thiểu 30% giảng viên kiêm nhiệm đến từ các cơ sở thực hành.

481075216-1047393114100291-8568071688811017578-n.jpg

Một tiết giảng thực hành Đại học Phenikaa. Ảnh: Fanpage nhà trường

Trong khi đó, với lĩnh vực Pháp luật, dự thảo yêu cầu tối thiểu 30% học phần phải gắn với hoạt động hành nghề luật; 100% sinh viên được tham gia thực tập hoặc trải nghiệm nghề nghiệp; đồng thời ít nhất 30% giảng viên có kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực pháp luật.

Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, đây là lần đầu tiên các tiêu chuẩn đặc thù được đưa vào dự thảo chuẩn cơ sở giáo dục đại học. Mục tiêu là tăng cường gắn kết giữa đào tạo với yêu cầu nghề nghiệp, chuẩn đầu ra và trách nhiệm xã hội của các trường đại học, nhất là ở những ngành có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, quyền lợi và đời sống của người dân.

Hiện cả nước có khoảng 250 cơ sở giáo dục đại học. Trong đó, khoảng 100 trường đào tạo các ngành thuộc lĩnh vực Pháp luật và khoảng 35 trường đào tạo ngành Y khoa, chưa kể nhiều cơ sở đào tạo các ngành khác thuộc khối Sức khỏe như Điều dưỡng, Kỹ thuật xét nghiệm hay Dược học.

Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết, các tiêu chuẩn đặc thù này cùng với bộ tiêu chí chung sẽ là căn cứ quan trọng để quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học, đầu tư phát triển các trường trọng điểm, đồng thời xem xét cấp phép, thu hồi giấy phép hoạt động hoặc đình chỉ tuyển sinh đối với những cơ sở không đáp ứng yêu cầu chất lượng.

Dự thảo đang được lấy ý kiến đến hết ngày 1/7 trước khi hoàn thiện và ban hành.

Các chỉ số đặc thù dự kiến như sau:

Đối với trường đào tạo lĩnh vực Sức khỏe:

TTChỉ số đặc thùNgưỡng tối thiểu
Chỉ số chung áp dụng tất cả ngành thuộc lĩnh vực Sức khoẻ
1Tỷ lệ người học được bố trí cơ sở thực hành theo chương trình đào tạo100%
2Tỷ lệ giảng viên thực hành hoặc lâm sàng có chứng chỉ hành nghề còn hiệu lực80%
3Tỷ lệ giảng viên kiêm nhiệm từ cơ sở thực hành30%
4Tỷ lệ chương trình đào tạo có cơ sở thực hành được ký kết ổn định tối thiểu 5 năm100%
5Tỷ lệ đề tài nghiên cứu có ứng dụng trong chăm sóc sức khỏe hoặc dịch vụ y tế30%
6Tỷ lệ học phần thực hành được đánh giá bằng chuẩn năng lực nghề nghiệp80%
Chỉ số riêng nhóm ngành Y khoa - Y học cổ truyền - Phục hồi chức năng
1Tỷ lệ giường bệnh thực hành trên người học1 giường/10 người
2Tỷ lệ người học được thực hành lâm sàng trên người bệnh thực95%
3Tỷ lệ giảng viên lâm sàng có trình độ sau đại học70%
4Tỷ lệ người học tham gia trực lâm sàng theo quy định100%
Chỉ số riêng nhóm ngành Răng Hàm Mặt
1Tỷ lệ ghế nha khoa thực hành trên người học1 ghế/10 người
2Tỷ lệ người học thực hành trên bệnh nhân thực90%
3Tỷ lệ người học hoàn thành đủ số ca điều trị bắt buộc100%
Chỉ số riêng nhóm ngành Điều dưỡng - Hộ sinh
1Tỷ lệ điều dưỡng trưởng hoặc hộ sinh trưởng tham gia đào tạo thực hành30%
2Tỷ lệ người học hoàn thành đầy đủ thực tập chăm sóc người bệnh100%
3Tỷ lệ người học đạt chuẩn năng lực điều dưỡng trước tốt nghiệp90%
4Tỷ lệ cơ sở thực hành đạt chuẩn thực hành điều dưỡng100%
Chỉ số riêng nhóm ngành Dược học
1Tỷ lệ người học được thực hành tại nhà thuốc, cơ sở sản xuất, kiểm nghiệm hoặc phân phối thuốc100%
2Tỷ lệ giảng viên có kinh nghiệm thực hành nghề nghiệp dược50%
3Tỷ lệ người học đạt chuẩn năng lực hành nghề dược90%
4Tỷ lệ nghiên cứu có ứng dụng trong sản xuất hoặc kiểm nghiệm thuốc30%
Chỉ số riêng nhóm Y tế công cộng
1Tỷ lệ người học thực hành tại CDC, trung tâm y tế, cơ quan quản lý y tế hoặc chương trình sức khỏe cộng đồng100%
2Tỷ lệ người học tham gia điều tra dịch tễ hoặc dự án sức khỏe cộng đồng80%
3Tỷ lệ giảng viên có kinh nghiệm thực tiễn quản lý y tế hoặc y tế công cộng50%
4Tỷ lệ đề tài nghiên cứu phục vụ chính sách y tế30%
5Tỷ lệ người học đạt chuẩn năng lực y tế công cộng90%
Chỉ số riêng nhóm Kỹ thuật y học
1Tỷ lệ người học được bố trí thực hành tại cơ sở thực hành kỹ thuật y học100%
2Tỷ lệ thiết bị thực hành đáp ứng yêu cầu chương trình đào tạo90%
3Tỷ lệ giảng viên thực hành có chứng chỉ hành nghề hoặc chứng nhận chuyên môn phù hợp80%
4Tỷ lệ người học đạt chuẩn năng lực kỹ thuật nghề nghiệp90%
5Tỷ lệ học phần thực hành được triển khai trên thiết bị thực hoặc mô phỏng chuẩn hoá80%

Đối với các trường đào tạo lĩnh vực Pháp luật (áp dụng cho tất cả ngành thuộc lĩnh vực Pháp luật):

TTChỉ số đặc thùNgưỡng tối thiểu
1Tỷ lệ học phần có hoạt động thực hành nghề luật30%
2Tỷ lệ người học tham gia thực tập hoặc thực hành nghề luật100%
3Tỷ lệ giảng viên có kinh nghiệm thực tiễn pháp luật30%
4Tỷ lệ học phần có sử dụng án lệ, tình huống pháp lý hoặc dữ liệu thực tiễn50%
5Tỷ lệ hợp tác với cơ quan tư pháp và tổ chức hành nghề luật70%
 
 
 
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
  • :
  • :