Kinh tế Việt Nam: Dư địa vẫn còn, nhưng có một số điểm nghẽn cần được tháo gỡ
Phân tích bức tranh kinh tế 6 tháng đầu năm 2026, TS. Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho rằng, nền kinh tế tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, nhiều động lực đang được củng cố, song những điểm nghẽn về sức cầu nội địa, đầu tư công, thương mại quốc tế và năng suất vẫn cần sớm được tháo gỡ để chuyển hóa dư địa thành kết quả tăng trưởng thực chất trong những tháng cuối năm
+Bối cảnh thế giới được nhiều chuyên gia nhận định là bước vào trạng thái “bất định trở thành bình thường mới”, với nhiều yếu tố khó dự báo có thể tác động mạnh tới kinh tế Việt Nam. Còn ở trong nước, đâu là những điểm nghẽn cần được đặc biệt lưu ý, thưa bà?
-Điểm nổi bật của bức tranh kinh tế 6 tháng đầu năm 2026 là nền kinh tế tiếp tục duy trì xu hướng phát triển tích cực; ổn định kinh tế vĩ mô được giữ vững; các động lực tăng trưởng từng bước được củng cố và niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư tiếp tục được cải thiện. Đây là cơ sở quan trọng để phấn đấu thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026.

TS. Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê. Ảnh: H.L
Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn đối mặt với nhiều điểm nghẽn, thách thức trong những tháng cuối năm. Đó là: Sức mua vẫn thấp do thu nhập dù được cải thiện nhưng chưa tương xứng với tăng trưởng kinh tế, tâm lý thận trọng của người dân, doanh nghiệp vẫn hiện hữu.
Trong dài hạn, nếu sức mua nội địa tiếp tục yếu sẽ tạo thành một vòng lặp đi xuống: doanh nghiệp không tiêu thụ được hàng buộc phải thu hẹp quy mô kéo theo giảm lao động, giảm tiền lương khiến tổng cầu tiếp tục giảm.
Khu vực doanh nghiệp đối mặt với không ít khó khăn. Vẫn có tới 151.224 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường trong 6 tháng tăng 18,9% so với cùng kỳ năm 2025.
Tiến độ thực hiện một số dự án đầu tư, nhất là đầu tư công, giữa các địa phương còn chưa đồng đều. Chỉ có 3 tỉnh giải ngân đầu tư công trên 50% kế hoạch TTCP giao, 11 tỉnh trên 40%; 11 tỉnh trên 30%; 6 tỉnh trên 20% và 2 tỉnh dưới 20%.
Nguồn vốn ngân sách đã được phân bổ và sẵn sàng, nhưng giải ngân do vướng mắc quy trình pháp lý, thủ tục đất đai, giải phóng mặt bằng và tâm lý phòng thủ trong thực thi. 6 tháng đầu năm, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện ước đạt gần 335,6 nghìn tỷ đồng, bằng 31,2% kế hoạch năm.
Xuất khẩu vẫn phụ thuộc vào một số thị trường và nhóm hàng chủ lực nên dễ bị tác động từ biến động kinh tế và chính sách thương mại quốc tế. Giá trị gia tăng trong nước của nhiều mặt hàng xuất khẩu còn hạn chế do vẫn phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu và linh kiện nhập khẩu. Nhập siêu tháng 6 có xu hướng chậm lại nhưng 06 tháng vẫn ở mức 16,65 tỷ USD.
Khu vực doanh nghiệp trong nước chỉ đóng góp 20,1% kim ngạch xuất khẩu, trong khi khối doanh nghiệp FDI chiếm tới 79,9% và thường xuất siêu, lại dựa nhiều vào chuỗi cung ứng toàn cầu, nên khi nguồn cung bên ngoài bị gián đoạn hoặc điều kiện thương mại thay đổi thì tác động dây chuyền đến xuất khẩu Việt Nam rất lớn.
Nhập siêu lớn mà không nhanh chóng đi vào sản xuất sẽ tạo ra ứ đọng vốn, làm giảm vòng quay vốn trong nền kinh tế.
Ngoài những điểm nghẽn trước mắt nêu trên, nền kinh tế cũng đang đứng trước những nút thắt mang tính dài hạn như nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây là các yếu tố quyết định chất lượng tăng trưởng trong trung và dài hạn, tuy nhiên hiệu quả lan tỏa hiện nay còn khác nhau giữa các ngành, lĩnh vực và địa phương.
+ Các số liệu thống kê hiện nay đang phản ánh những chuyển động nào mạnh của nền kinh tế. Thách thức và khó khăn phía trước không ít. Xin bà cho biết đâu là những dư địa và động lực tăng trưởng mà Việt Nam có thể tận dụng để tạo thêm đà cho nền kinh tế?
- Dù rất nhiều khó khăn, nhưng kinh tế Việt Nam trong sáu tháng đầu năm 2026 đạt mức tăng trưởng 8,18%. Đây là kết quả tích cực tạo nền tảng quan trọng để phấn đấu hoàn thành các mục tiêu của năm 2026.
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng ở mức hai con số cần tiếp tục phát huy hiệu quả các động lực tăng trưởng trong nước, đẩy nhanh cải cách thể chế, nâng cao năng suất, sức cạnh tranh của nền kinh tế, đồng thời chủ động ứng phó với những biến động khó lường của môi trường kinh tế quốc tế.
Nhìn tới những tháng cuối năm, dư địa tăng trưởng vẫn còn khá lớn và có thể được thúc đẩy từ nhiều động lực quan trọng. Trước hết, đầu tư công tiếp tục là một trong những động lực quan trọng nhất. Nếu giải ngân đúng tiến độ các dự án hạ tầng trọng điểm sẽ vừa tạo tổng cầu, vừa nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế và tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn.
Bên cạnh đó, công nghiệp chế biến, chế tạo là động lực từ sản xuất đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng. Khi đơn hàng xuất khẩu tiếp tục cải thiện và chuỗi cung ứng ổn định hơn, xuất khẩu được kỳ vọng tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng trong thời gian tới.
Tiếp đó là tiêu dùng trong nước và du lịch.Với quy mô thị trường gần 100 triệu dân, cùng sự phục hồi của dịch vụ và du lịch, đây là nguồn lực quan trọng để bù đắp những biến động từ bên ngoài, tạo thêm sức cầu cho nền kinh tế.
Cùng với đó, khu vực kinh tế tư nhân và đầu tư nước ngoài tiếp tục mở ra dư địa phát triển đáng kể. Môi trường đầu tư kinh doanh đang được cải thiện, đi kèm với việc triển khai các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp sẽ góp phần thúc đẩy đầu tư và mở rộng sản xuất.
Đặc biệt, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang nổi lên như những động lực tăng trưởng mới. Đây là những yếu tố có khả năng nâng cao năng suất, hiệu quả sử dụng nguồn lực và tạo dư địa tăng trưởng mới trong giai đoạn tới.
Dư địa tăng trưởng của nền kinh tế vẫn còn. Vấn đề quan trọng là khai thác hiệu quả các động lực hiện có, đồng thời tháo gỡ kịp thời các điểm nghẽn để chuyển hóa các tiềm năng thành kết quả tăng trưởng thực tế trong 6 tháng cuối năm.
+ Đâu là những vấn đề cần đặc biệt lưu ý trong thời gian tới nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, thưa bà?
-Trong thời gian tới, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, cần đặc biệt lưu ý đến một số vấn đề trọng tâm.
Trước hết, cần theo dõi sát diễn biến thương mại quốc tế cũng như các chính sách thuế quan và phòng vệ thương mại của các đối tác lớn để chủ động có giải pháp ứng phó phù hợp. Trong bối cảnh môi trường kinh tế toàn cầu biến động nhanh, việc đa dạng hóa thị trường và nâng cao giá trị gia tăng của hàng hóa xuất khẩu sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng duy trì tăng trưởng.
Song song với đó, việc giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô tiếp tục là yêu cầu then chốt. Cần theo dõi chặt chẽ diễn biến lạm phát, tỷ giá, lãi suất và thị trường tài chính nhằm bảo đảm an toàn hệ thống. Giá năng lượng, nguyên vật liệu, cước vận tải và tỷ giá vẫn tiềm ẩn nhiều biến động. Các rủi ro địa chính trị tiếp tục gia tăng. Điều này có thể làm gia tăng áp lực lạm phát chi phí đẩy và nhanh chóng lan truyền tới chi phí sản xuất, hoạt động xuất nhập khẩu, giá tiêu dùng cũng như tâm lý thị trường của một nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam.
Cần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu tư, đặc biệt là đầu tư công, gắn với kỷ luật tài khóa và kiểm soát chặt chẽ thất thoát, lãng phí. Đẩy nhanh giải ngân phải đi đôi với bảo đảm tiến độ, chất lượng và hiệu quả lan tỏa của các dự án. Đồng thời, cần tránh phụ thuộc vào tăng trưởng dựa trên mở rộng tín dụng quá mức, đầu tư dàn trải hoặc khai thác tài nguyên để duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và tạo nền tảng tăng trưởng bền vững.
Một vấn đề quan trọng khác là nâng cao chất lượng tăng trưởng thông qua cải thiện năng suất lao động, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển khu vực kinh tế tư nhân. Đây mới là nền tảng căn bản để Việt Nam có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững trong giai đoạn tới.
Tiếp nữa, là bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực và các cân đối lớn của nền kinh tế. Trong bối cảnh giá dầu, khí đốt, điện, lương thực và vận tải quốc tế có thể biến động mạnh, cần chủ động xây dựng các kịch bản điều hành giá, bảo đảm cung ứng xăng dầu, điện, vật tư sản xuất, đồng thời kiểm soát chặt hành vi đầu cơ, găm hàng, tăng giá bất hợp lý.
+Xin cảm ơn bà về cuộc trao đổi này.




