Thương hiệu quốc gia: Nội lực doanh nghiệp là "gốc"
Năm 2026 đánh dấu bước khởi đầu quan trọng trong triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030 với định hướng xuyên suốt là chuyển dịch mô hình tăng trưởng theo chiều sâu,
![]() |
| Nội lực của doanh nghiệp sẽ quyết định giá trị thương hiệu. Ảnh minh hoạ, nguồn: internet |
Trụ cột của năng lực cạnh tranh
Năm 2026 đánh dấu bước khởi đầu quan trọng trong triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030 với định hướng xuyên suốt là chuyển dịch mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, dựa trên năng suất, chất lượng và năng lực tự chủ của nền kinh tế; đồng thời lấy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững làm động lực chủ yếu.
Trong bối cảnh đó, theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân, thương hiệu quốc gia không còn chỉ dừng lại ở hoạt động quảng bá hình ảnh hay xúc tiến thương mại theo cách tiếp cận truyền thống. Thay vào đó, đây phải được nhìn nhận là tài sản chiến lược, phản ánh năng lực cạnh tranh tổng thể cũng như uy tín của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
“Xây dựng Thương hiệu quốc gia trong kỷ nguyên mới không chỉ là hình ảnh hàng hóa "Made in Vietnam", mà còn là xây dựng uy tín quốc gia và sức mạnh mềm trên trường quốc tế”, Thứ trưởng nhấn mạnh.
Thực tế cho thấy, sau hơn 2 thập kỷ triển khai, chương trình Thương hiệu quốc gia Việt Nam ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng và phát triển thương hiệu. Kể từ khi Chính phủ quyết định lấy ngày 20/4 hằng năm là Ngày Thương hiệu Việt Nam, số lượng sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia đã tăng đều qua các kỳ xét chọn, phản ánh nỗ lực bền bỉ của cộng đồng doanh nghiệp trong cải tiến công nghệ và nâng cao chất lượng.
Theo ông Hoàng Minh Chiến, Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương), nếu như năm 2003 chỉ có 30 doanh nghiệp tham gia Chương trình thì đến năm 2026 đã có 190 doanh nghiệp được công nhận. Đây là bước tiến lớn, cho thấy sự trưởng thành rõ nét của doanh nghiệp Việt Nam.
Không chỉ gia tăng về số lượng, giá trị thương hiệu quốc gia Việt Nam cũng ghi nhận mức tăng trưởng mạnh mẽ. Năm 2025, giá trị này đạt 519,6 tỷ USD, xếp thứ 32/193 nền kinh tế, tăng hơn 200 tỷ USD so với năm 2020. Cùng với đó, các chỉ số về sức mạnh mềm quốc gia và trụ cột kinh doanh - thương mại đều được cải thiện đáng kể.
Đáng chú ý, nhiều doanh nghiệp Việt đã từng bước khẳng định vị thế trên bản đồ thương hiệu toàn cầu như Vietcombank, BIDV, VietinBank trong Top 500 thương hiệu ngân hàng giá trị nhất thế giới; Vinamilk trong Top 50 thương hiệu sữa hàng đầu; hay Viettel trở thành doanh nghiệp viễn thông dẫn đầu khu vực Đông Nam Á... Những kết quả này là minh chứng rõ nét cho hiệu quả của Chương trình trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp.
Nâng “chất” thương hiệu
Dù đạt được nhiều kết quả tích cực, yêu cầu đặt ra trong giai đoạn mới ngày càng cao hơn, đặc biệt trong bối cảnh các tiêu chuẩn về kinh tế xanh, kinh tế số và trách nhiệm xã hội ngày càng khắt khe.
Theo Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân, Việt Nam cần thoát khỏi vị thế gia công giá trị thấp để chuyển sang làm chủ công nghệ và thương hiệu. Đây cũng là thông điệp cốt lõi của chủ đề “Thương hiệu quốc gia Việt Nam trong kỷ nguyên mới”. Theo đó, thương hiệu quốc gia cần được xây dựng trên nền tảng chất lượng, đổi mới sáng tạo, phát triển bền vững và bản sắc văn hóa Việt Nam, phù hợp với hệ thống tiêu chí mới của Chương trình.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, một số định hướng trọng tâm đã được Thứ trưởng nhấn mạnh: đẩy mạnh chuyển đổi số và chuyển đổi xanh; xây dựng chiến lược phát triển thị trường quốc tế bài bản, dài hạn gắn với bảo vệ tài sản trí tuệ; tận dụng hiệu quả các FTA và thương mại điện tử xuyên biên giới; đồng thời phát huy giá trị văn hóa nội sinh để tạo khác biệt bền vững cho sản phẩm, dịch vụ.
Ở góc độ chuyên môn, bà Tạ Hoàng Lan, Phó Trưởng phòng Phát triển năng lực Xúc tiến thương mại (Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương) cho biết, báo cáo của Brand Finance năm 2025 cho thấy giá trị Thương hiệu quốc gia Việt Nam đạt gần 520 tỷ USD, xếp thứ 32/193 quốc gia, tăng trưởng 63% trong giai đoạn 2020-2025. Đây là kết quả từ nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh và sự chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo Đảng, Nhà nước.
Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy những hạn chế đáng lưu ý. Dù số lượng doanh nghiệp tăng, chất lượng và giá trị thương hiệu chưa tương xứng. Năm 2025, giá trị Top 10 thương hiệu mạnh nhất giảm khoảng 14%, tương đương 38,4 tỷ USD. Một trong những nguyên nhân là doanh nghiệp vẫn phụ thuộc nhiều vào gia công, năng lực thiết kế và xây dựng thương hiệu riêng còn hạn chế; đồng thời gặp khó khăn trong phân phối và đáp ứng các tiêu chuẩn mới về xanh và bền vững.
Đáng chú ý, nhận thức về bảo hộ sở hữu trí tuệ của một bộ phận doanh nghiệp còn hạn chế, dẫn đến nguy cơ mất thương hiệu ngay tại thị trường trong nước.
Từ thực tiễn đó, bài toán đặt ra không chỉ là gia tăng số lượng doanh nghiệp xuất khẩu mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng và giá trị thương hiệu. Doanh nghiệp cần chuyển từ gia công sang làm chủ công nghệ, đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, tự thiết kế và xây dựng thương hiệu để định vị sản phẩm ở phân khúc cao hơn trên thị trường quốc tế.
Theo bà Lan, yếu tố “nội lực” là nền tảng cốt lõi. Nội lực không chỉ thể hiện ở chất lượng sản phẩm, khả năng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, trách nhiệm xã hội, mà còn ở năng lực khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đây là điều kiện tiên quyết để thương hiệu phát triển bền vững trong bối cảnh yêu cầu về minh bạch và phát triển bền vững ngày càng cao.
Bên cạnh đó, thay đổi tư duy cũng là yếu tố quan trọng. Nhiều doanh nghiệp vẫn coi chi phí xây dựng thương hiệu là “chi phí” thay vì “khoản đầu tư”. Trong khi đó, xây dựng thương hiệu đòi hỏi đầu tư toàn diện vào quản trị, tài chính và chiến lược dài hạn - những yếu tố cấu thành nội lực doanh nghiệp.
Các chương trình hỗ trợ của Nhà nước như Chương trình Thương hiệu quốc gia, các hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối thị trường hay thúc đẩy thương mại điện tử xuyên biên giới đóng vai trò như “bệ phóng” hay “tấm hộ chiếu” cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, hiệu quả thực chất phụ thuộc vào năng lực nội tại. Khi nội lực còn yếu, các hoạt động truyền thông chỉ mang tính ngắn hạn và khó tạo dựng niềm tin bền vững với thị trường.
Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, xây dựng Thương hiệu quốc gia không chỉ là nhiệm vụ của riêng cơ quan quản lý mà cần sự tham gia chủ động của cộng đồng doanh nghiệp. Với định hướng đúng và sự đồng hành của Chính phủ, Thương hiệu quốc gia Việt Nam được kỳ vọng sẽ trở thành động lực quan trọng, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế trong giai đoạn phát triển mới.





