Lan tỏa giá trị tăng trưởng từ các khu công nghệ cao
Hòa Lạc là khu công nghệ cao đầu tiên được thành lập ở Việt Nam, được đặt ở phía Tây thủ đô Hà Nội, cách trung tâm thành phố khoảng 30 km và cách sân bay quốc tế Nội Bài khoảng 60 km. Với tổng diện tích 1.586 ha, Khu công nghệ cao Hòa Lạc được quy hoạch thành 8 phân khu chức năng và được định hướng phát triển thành một thành phố khoa học hiện đại, vùng lõi của đô thị vệ tinh phía Tây của Hà Nội.
![]() |
| Toàn cảnh Khu công nghệ cao Hòa Lạc, Hà Nội. |
Hòa Lạc là khu công nghệ cao đầu tiên được thành lập ở Việt Nam, được đặt ở phía Tây thủ đô Hà Nội, cách trung tâm thành phố khoảng 30 km và cách sân bay quốc tế Nội Bài khoảng 60 km. Với tổng diện tích 1.586 ha, Khu công nghệ cao Hòa Lạc được quy hoạch thành 8 phân khu chức năng và được định hướng phát triển thành một thành phố khoa học hiện đại, vùng lõi của đô thị vệ tinh phía Tây của Hà Nội.
Hạ tầng kỹ thuật Khu công nghệ cao Hòa Lạc được xây dựng bằng nguồn vốn ODA của Chính phủ Nhật Bản, tổng mức đầu tư hơn 10.000 tỷ đồng, trong đó vốn vay của Chính phủ Nhật Bản tương đương hơn 9.200 tỷ đồng. Hạ tầng kỹ thuật được thiết kế đồng bộ cho hơn 1.000 ha, bao gồm: giao thông nội khu, cấp nước, thoát nước mưa; nhà máy xử lý nước thải; trạm biến áp và viễn thông…
Đến nay, Khu công nghệ cao Hòa Lạc đã thu hút 115 dự án đầu tư, trong đó có 16 dự án đầu tư nước ngoài, với tổng vốn đăng ký trên 5 tỷ USD và tạo việc làm cho khoảng 25.000 lao động.
Không chỉ có dấu ấn từ hạ tầng kỹ thuật, Khu công nghệ cao Hòa Lạc còn quy tụ những dự án có ý nghĩa chiến lược, mang tính lan tỏa mạnh mẽ. Tiêu biểu như Trung tâm Vũ trụ Việt Nam triển khai trên quy mô 7,3 ha và đi vào hoạt động từ tháng 3/2026, gắn với chuyển giao công nghệ vệ tinh và đào tạo chuyên gia.
Cùng với đó, Hòa Lạc cũng đã bước đầu hình thành hệ sinh thái gắn kết giữa đào tạo, nghiên cứu và sản xuất công nghệ cao, với các trường đại học lớn. Có thể kể đến: Đại học Quốc gia Hà Nội quy mô khoảng 1.000 ha, dự kiến 65.000 sinh viên đến năm 2030; Trường Đại học FPT đã hoạt động; Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội đang xây dựng; Trường Đại học Việt - Nhật và Trường Đại học Văn Lang; gắn với các viện nghiên cứu, cơ sở nghiên cứu và phát triển.
Có thể thấy, những lợi thế nổi bật của Khu công nghệ cao Hòa Lạc đang có bao gồm: vị trí thuận lợi; thủ tục hành chính một cửa; hạ tầng hiện đại và đồng bộ; hệ sinh thái khoa học và công nghệ; nguồn nhân lực chất lượng cao.
Ông Vũ Quốc Huy, Phó Trưởng Ban Quản lý các Khu công nghệ cao và các khu công nghiệp TP. Hà Nội cho biết: theo định hướng chỉ đạo từ UBND thành phố Hà Nội, Khu Công nghệ cao Hòa Lạc được định vị không chỉ là một khu sản xuất công nghệ cao, mà là trung tâm đổi mới sáng tạo của quốc gia, cực tăng trưởng phía Tây của Thủ đô và hạt nhân của kinh tế tri thức, công nghệ cao.
Không chỉ có vai trò mang tính chỉ đạo, quản lý mang tính thuần túy, UBND thành phố Hà Nội còn là “khách hàng đầu tiên” với Khu công nghệ cao Hòa Lạc. Theo cơ chế đặt hàng, Hà Nội đã đưa ra danh mục bài toán, sản phẩm và đơn hàng công nghệ có quy mô đủ lớn, tạo động lực thúc đẩy trực tiếp và lan tỏa các giá trị gián tiếp.
Hà Nội cũng đã xác định 7 điều kiện trọng tâm để phát triển Hòa Lạc tiệm cận các mô hình quốc tế, bao gồm: (1) Quy tụ các trường đại học và viện nghiên cứu hàng đầu; (2) Thu hút trung tâm nghiên cứu và phát triển của các tập đoàn; (3) Phát triển tổ chức trung gian và cơ sở ươm tạo khởi nghiệp; (4) Quy tụ các quỹ đầu tư công - tư và quỹ đầu tư rủi ro; (5) Hành lang pháp lý cho thử nghiệm có kiểm soát; (6) Hạ tầng hiện đại, bền vững; (7) Giao thông kết nối thuận tiện.
“Chuỗi giá trị cần được tổ chức liền mạch từ nghiên cứu - thử nghiệm - sản xuất thử - thương mại hóa - sản xuất và đưa sản phẩm ra thị trường toàn cầu”, ông Huy nhấn mạnh.
Cũng theo lãnh đạo Ban Quản lý các Khu công nghệ cao và các khu công nghiệp TP. Hà Nội, để cụ thể hóa các định hướng như vừa nêu, trong giai đoạn mới, mục tiêu hướng tới sẽ không chỉ là diện tích được lấp đầy hay số vốn đăng ký. Trong công tác xúc tiến và quản lý đầu tư, cần phải chú trọng đến cả hàm lượng công nghệ, năng lực nghiên cứu và phát triển, hiệu quả sử dụng đất, số sản phẩm được thương mại hóa và khả năng hình thành chuỗi doanh nghiệp vệ tinh.






