A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tăng sản lượng, nâng giá trị từ chế biến sâu

Niên vụ 2025 - 2026 ghi nhận tăng trưởng đáng kể về sản lượng xuất khẩu cà phê Việt Nam, nhưng giá bán hạ nhiệt khiến kết quả kim ngạch chưa tương xứng. Theo Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (VICOFA), sản lượng cà phê niên vụ 2025 - 2026 ước đạt gần 1,9 triệu tấn, tăng 6–10% so với niên vụ trước. Robusta tiếp tục giữ vai trò chủ lực, chiếm hơn 90% tổng sản lượng.

Tăng sản lượng, nâng giá trị từ chế biến sâu
Xuất khẩu cà phê Việt Nam niên vụ 2025–2026 đạt khoảng 1,8 triệu tấn, mang về 8,5 tỷ USD. (Ảnh minh hoạ có sự hỗ trợ của AI)

Sản lượng tăng, giá giảm tạo sức ép lên kim ngạch

Niên vụ 2025 - 2026 ghi nhận tăng trưởng đáng kể về sản lượng xuất khẩu cà phê Việt Nam, nhưng giá bán hạ nhiệt khiến kết quả kim ngạch chưa tương xứng. Theo Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (VICOFA), sản lượng cà phê niên vụ 2025 - 2026 ước đạt gần 1,9 triệu tấn, tăng 6–10% so với niên vụ trước. Robusta tiếp tục giữ vai trò chủ lực, chiếm hơn 90% tổng sản lượng.

Từ ngày 1/10/2025 đến hết ngày 30/9/2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,8 triệu tấn cà phê, tăng 21% so với niên vụ 2024 - 2025, nhưng kim ngạch chỉ đạt 8,5 tỷ USD, tăng khoảng 1%. Chênh lệch giữa tốc độ tăng lượng và giá trị cho thấy ngành hàng vẫn chịu tác động lớn từ biến động giá quốc tế, nhất là sau giai đoạn giá cà phê tăng cao.

Cà phê nhân tiếp tục chiếm phần lớn lượng hàng xuất khẩu, với khoảng 1,65 triệu tấn, mang về gần 7 tỷ USD. So với niên vụ trước, sản lượng xuất khẩu nhóm hàng này tăng 21,4%, nhưng giá trị giảm 1,5%. Điều này cho thấy việc mở rộng lượng hàng chưa đủ tạo tăng trưởng doanh thu khi giá bán giảm, đồng thời phản ánh mức độ phụ thuộc của ngành vào xuất khẩu nguyên liệu.

Theo VICOFA, diễn biến giá trong niên vụ cho thấy áp lực ngày càng rõ khi triển vọng nguồn cung cải thiện. Từ tháng 10 năm 2025 đến tháng 1 năm 2026, giá Robusta xuất khẩu tại cảng TP.Hồ Chí Minh dao động trong khoảng 4.800–5.100 USD/tấn, trong bối cảnh tồn kho thấp và nhu cầu giao hàng cao. Từ tháng 2 năm 2026, giá bắt đầu giảm khi triển vọng sản lượng tại Brazil và Việt Nam được cải thiện. Đến tháng 5 năm 2026, giá xuất khẩu bình quân còn khoảng 4.411 USD/tấn; trong tháng 8 và tháng 9, giá dao động quanh 3.500 - 4.000 USD/tấn.

Tại Tây Nguyên, cuối tháng 9 năm 2026, giá cà phê phổ biến ở mức 93.000 - 93.600 đồng/kg, thấp hơn đáng kể so với mức 115.000 - 118.000 đồng/kg vào cuối năm 2025. Theo VICOFA, nguồn cung cà phê thế giới phục hồi đang tạo sức ép giảm giá. Trong khi đó, nhiều nông dân có xu hướng giữ hàng, chỉ bán khi cần thiết thay vì bán tập trung ngay sau thu hoạch.

9 tháng năm 2026 xuất khẩu cà phê đạt khoảng 1,45 triệu tấn, trị giá 6,57 tỷ USD, tăng 16,3% về lượng nhưng giảm 6,9% về giá trị. Giá xuất khẩu bình quân đạt 4.524 USD/tấn, giảm 20% so với cùng kỳ năm trước. Riêng tháng 9 năm 2026, giá bình quân đạt 4.519 USD/tấn, tăng 1,1% so với tháng trước nhưng giảm 20,6% so với cùng kỳ năm 2025.

Những con số này đặt ra yêu cầu chuyển trọng tâm từ tăng sản lượng sang nâng giá trị. Khi giá thế giới hạ nhiệt, hiệu quả xuất khẩu sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào chất lượng sản phẩm, cơ cấu hàng hóa, khả năng quản trị rủi ro giá và năng lực tiếp cận những phân khúc thị trường có giá trị cao.

Chế biến sâu và đa dạng thị trường mở dư địa tăng trưởng

Tăng sản lượng, nâng giá trị từ chế biến sâu
Cà phê Việt Nam trước yêu cầu chuyển trọng tâm từ tăng sản lượng sang nâng giá trị.

Trong khi cà phê nhân chịu sức ép giảm giá, phân khúc chế biến tiếp tục ghi nhận kết quả tích cực. Niên vụ 2025–2026, xuất khẩu cà phê chế biến đạt khoảng 142.600 tấn, với kim ngạch 1,5 tỷ USD, tăng lần lượt 15% về lượng và 14% về giá trị so với niên vụ trước. Kết quả này cho thấy doanh nghiệp Việt Nam đang từng bước mở rộng đầu tư vào cà phê rang xay, cà phê hòa tan và các sản phẩm chế biến sâu.

So với xuất khẩu nguyên liệu, chế biến sâu tạo điều kiện gia tăng giá trị thông qua công nghệ, phát triển thương hiệu và khả năng đáp ứng thị hiếu riêng của từng thị trường. Đây cũng là hướng đi giúp doanh nghiệp giảm dần sự phụ thuộc vào biến động giá cà phê nhân. Tuy nhiên, để mở rộng phân khúc này, doanh nghiệp cần đầu tư đồng bộ vào công nghệ sản xuất, kiểm soát chất lượng, nghiên cứu thị trường và hệ thống phân phối.

Về thị trường, châu Âu tiếp tục là khu vực xuất khẩu chủ lực, với EU chiếm hơn 38% lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam. Trong 9 tháng năm 2026, lượng hàng xuất khẩu sang Đức, Italy, Tây Ban Nha và Bỉ đều tăng so với cùng kỳ. Tại châu Á, xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 54.600 tấn, trị giá 279,6 triệu USD, tăng 48,8% về lượng và 53,1% về giá trị.

Tại Mỹ, xuất khẩu cà phê đạt 103.400 tấn, trị giá 441,2 triệu USD, tăng 46% về lượng và 13,8% về giá trị. Trong khi đó, xuất khẩu sang Nhật Bản đạt 95.900 tấn, trị giá 473,1 triệu USD; lượng tăng 25,6% nhưng giá trị giảm 1,4%. Điều này tiếp tục cho thấy tăng lượng hàng chưa đồng nghĩa với tăng doanh thu nếu giá xuất khẩu suy giảm. Xuất khẩu sang Algeria tăng 6,4% về lượng, góp phần mở rộng thị trường tiêu thụ.

Bên cạnh chất lượng, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn môi trường ngày càng ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận thị trường. Theo VICOFA, những lô cà phê đáp ứng Quy định chống phá rừng của EU (EUDR) có thể được người mua trả thêm khoảng 50 USD/tấn. Do đó, tuân thủ tiêu chuẩn không chỉ là điều kiện duy trì thị trường còn có thể tạo lợi thế thương mại. Vì vậy, doanh nghiệp cần phối hợp với vùng nguyên liệu, bảo đảm dữ liệu truy xuất và kiểm soát quy trình sản xuất.

Đáng chú ý, thách thức cạnh tranh thị trường sẽ gia tăng khi Brazil và Uganda đẩy mạnh sản xuất, chế biến và mở rộng thị trường Robusta. Theo Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO) ước tính sản lượng cà phê toàn cầu niên vụ 2025–2026 đạt khoảng 183,6 triệu bao, tăng 4,4% so với niên vụ trước; trong khi tiêu thụ dự kiến giảm 0,8%, xuống 180,6 triệu bao. Như vậy, nguồn cung có thể vượt nhu cầu khoảng 3 triệu bao, đảo chiều xu hướng thiếu hụt kéo dài bốn năm trước đó.

Diễn biến thị ttrường, VICOFA kỳ vọng xuất khẩu những tháng cuối năm khởi sắc nhờ nguồn cung từ vụ thu hoạch mới và nhu cầu nhập khẩu phục vụ mùa tiêu dùng cuối năm. Nhu cầu Robusta dùng để phối trộn tiếp tục tạo cơ hội để Việt Nam mở rộng thị phần. Tuy nhiên, quỹ đất canh tác hạn chế, áp lực nguồn nước, thời tiết khó lường và chi phí sản xuất tăng vẫn là những trở ngại đối với khả năng mở rộng nguồn cung.

Trong bối cảnh đó, xuất khẩu cà phê Việt Nam đạt 8,5 tỷ USD trong niên vụ 2025–2026 là kết quả đáng chú ý, nhưng để duy trì đà tăng trưởng, ngành cà phê cần chuyển mạnh sang nâng cao giá trị. Đẩy mạnh chế biến sâu, cải thiện chất lượng, phát triển thương hiệu, đa dạng hóa thị trường và đáp ứng tiêu chuẩn môi trường sẽ giúp giảm tác động từ biến động giá thế giới, củng cố sức cạnh tranh và mở rộng dư địa tăng trưởng xuất khẩu cà phê Việt Nam trong những niên vụ tiếp theo.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
  • :
  • :
Video clip