A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Kết nối dữ liệu thời gian thực trong hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch

Ngày 3/9/2026, Bộ Công Thương ban hành Thông tư số 47/2026/TT-BCT quy định chi tiết về hồ sơ đề nghị thành lập Sở giao dịch hàng hóa, chế độ báo cáo và kết nối dữ liệu trong hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa. Thông tin về số hiệu, ngày ban hành và tên Thông tư cũng đã được Bộ Công Thương công bố chính thức.

Kết nối dữ liệu thời gian thực trong hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch
Thông tư số 47/2026/TT-BCT của Bộ Công Thương quy định chi tiết về thủ tục,
hồ sơ thành lập cũng như hoạt động mua bán qua Sở giao dịch hàng hoá.
Ảnh minh hoạ, có sự hỗ trợ của AI.

Thúc đẩy niêm yết hàng hóa sản xuất tại Việt Nam

Ngày 3/9/2026, Bộ Công Thương ban hành Thông tư số 47/2026/TT-BCT quy định chi tiết về hồ sơ đề nghị thành lập Sở giao dịch hàng hóa, chế độ báo cáo và kết nối dữ liệu trong hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa. Thông tin về số hiệu, ngày ban hành và tên Thông tư cũng đã được Bộ Công Thương công bố chính thức.

Thông tư quy định chi tiết khoản 4 Điều 6 và khoản 2 Điều 17 Nghị định số 302/2026/NĐ-CP ngày 1/8/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa.

Phạm vi điều chỉnh tập trung vào báo cáo mô tả hệ thống công nghệ thông tin và các tài liệu chứng minh đáp ứng điều kiện về hệ thống công nghệ thông tin trong hồ sơ đề nghị thành lập Sở giao dịch hàng hóa; nội dung Đề án giải trình về mô hình, tổ chức hoạt động của Sở giao dịch hàng hóa và giải pháp, lộ trình niêm yết hàng hóa sản xuất tại Việt Nam trong thời gian 5 năm; chế độ báo cáo cùng việc kết nối, cung cấp và chia sẻ dữ liệu trong hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa.

Đối tượng áp dụng gồm Sở giao dịch hàng hóa được thành lập và hoạt động tại Việt Nam; Trung tâm thanh toán bù trừ; thành viên của Sở giao dịch hàng hóa, tổ chức cung cấp dịch vụ hỗ trợ giao dịch, thanh toán bù trừ và các tổ chức, cá nhân có liên quan.

Một trong những nội dung quan trọng của Thông tư số 47/2026/TT-BCT là cụ thể hóa yêu cầu đối với hệ thống công nghệ thông tin trong hồ sơ đề nghị thành lập Sở giao dịch hàng hóa.

Theo đó, doanh nghiệp đề nghị thành lập Sở giao dịch hàng hóa có trách nhiệm lập Báo cáo mô tả hệ thống công nghệ thông tin theo Mẫu ban hành kèm theo Thông tư.

Báo cáo phải thể hiện tối thiểu mô hình tổng thể hệ thống công nghệ thông tin phục vụ hoạt động giao dịch, thanh toán bù trừ, quản lý dữ liệu, giám sát giao dịch và kết nối với các chủ thể liên quan trong hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa.

Các phân hệ nghiệp vụ chính của hệ thống cũng phải được làm rõ, bao gồm hệ thống giao dịch điện tử, hệ thống giám sát giao dịch, hệ thống quản lý dữ liệu, hệ thống thanh toán bù trừ và các hệ thống có liên quan.

Cùng với yêu cầu về công nghệ, doanh nghiệp đề nghị thành lập Sở giao dịch hàng hóa phải xây dựng Đề án giải trình về mô hình, tổ chức hoạt động được quy định tại Thông tư.

Đề án phải làm rõ mô hình tổ chức, cơ cấu quản trị, phương thức quản lý, điều hành và mối quan hệ phối hợp giữa các bộ phận nghiệp vụ trong quá trình hoạt động.

Doanh nghiệp cũng phải xây dựng phương án tổ chức và vận hành hoạt động giao dịch, thanh toán bù trừ, quản lý rủi ro, công bố thông tin, lưu trữ dữ liệu và bảo đảm hoạt động liên tục của hệ thống; phương án phối hợp giữa Sở giao dịch hàng hóa và Trung tâm thanh toán bù trừ trong tổ chức giao dịch, thanh toán bù trừ, quản lý ký quỹ, quản lý rủi ro và xử lý các tình huống phát sinh.

Đáng chú ý, Đề án phải xác định lộ trình, giải pháp phát triển thị trường, phát triển thành viên và thúc đẩy niêm yết hàng hóa sản xuất tại Việt Nam trong thời gian 5 năm kể từ ngày được cấp Giấy phép thành lập Sở giao dịch hàng hóa. Đồng thời, doanh nghiệp phải xây dựng phương án nhân sự, đào tạo và các điều kiện bảo đảm tổ chức, vận hành Sở giao dịch hàng hóa.

Việc lựa chọn hàng hóa sản xuất tại Việt Nam dự kiến niêm yết được đặt trong mối liên hệ với nhu cầu giao dịch, phòng ngừa rủi ro giá và phát triển thị trường; khả năng chuẩn hóa về chất lượng, quy cách, đơn vị giao dịch và phương thức giao nhận; khả năng hình thành thanh khoản; khả năng kết nối với sản xuất, lưu thông, xuất khẩu, nhập khẩu hoặc chuỗi cung ứng hàng hóa trong nước.

Lộ trình niêm yết được xây dựng theo từng năm trong thời gian 5 năm, xác định nội dung triển khai chủ yếu, hàng hóa dự kiến niêm yết, kết quả dự kiến và trách nhiệm tổ chức thực hiện.

Các giải pháp thực hiện cũng được xác định cụ thể, trong đó có phát triển nguồn hàng; thu hút doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu tham gia giao dịch; phát triển thành viên và khách hàng; chuẩn hóa tiêu chuẩn, chất lượng, quy cách và đơn vị giao dịch; phát triển kho bãi, lưu ký, giao nhận hàng hóa; công bố thông tin, tham chiếu giá và minh bạch hóa thị trường.

Kết nối dữ liệu thời gian thực, tăng giám sát rủi ro thị trường

Cùng với yêu cầu về hồ sơ thành lập và tổ chức hoạt động, Thông tư số 47/2026/TT-BCT dành riêng một chương quy định về kết nối, cung cấp và chia sẻ dữ liệu.

Theo đó, Sở giao dịch hàng hóa, Trung tâm thanh toán bù trừ có trách nhiệm kết nối, cung cấp và chia sẻ dữ liệu với Bộ Công Thương theo quy định. Việc kết nối được thực hiện thông qua Nền tảng quản lý thương mại và thị trường hoặc phương thức khác do Bộ Công Thương thông báo.

Dữ liệu được kết nối, cung cấp và chia sẻ phải bảo đảm đầy đủ, chính xác, kịp thời, liên tục; đồng thời tuân thủ quy định của pháp luật về giao dịch điện tử, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và pháp luật có liên quan.

Điểm đáng chú ý là Thông tư quy định cụ thể thời điểm và tần suất cung cấp đối với từng nhóm dữ liệu. Theo đó, dữ liệu về lệnh giao dịch, kết quả giao dịch, giá giao dịch, khối lượng giao dịch, vị thế giao dịch, nghĩa vụ ký quỹ, nghĩa vụ thanh toán và cảnh báo rủi ro được cung cấp theo thời gian thực.

Đối với Sở giao dịch hàng hóa, dữ liệu về hoạt động giao dịch gồm thông tin lệnh giao dịch, kết quả giao dịch, giá và khối lượng giao dịch. Dữ liệu phục vụ giám sát giao dịch và quản lý rủi ro gồm cảnh báo giao dịch, dấu hiệu bất thường cùng các thông tin phục vụ công tác giám sát.

Đối với Trung tâm thanh toán bù trừ, dữ liệu kết nối bao gồm các thông tin liên quan đến ký quỹ, thanh toán bù trừ và vị thế giao dịch.

Bên cạnh nhóm dữ liệu cung cấp theo thời gian thực, dữ liệu tổng hợp về giao dịch, thanh toán bù trừ, ký quỹ và quản lý vị thế được cung cấp sau khi kết thúc phiên giao dịch, chậm nhất trước khi bắt đầu phiên giao dịch tiếp theo. Dữ liệu về giao nhận hàng hóa được cung cấp sau khi có kết quả giao nhận; dữ liệu về thành viên, hàng hóa niêm yết, hợp đồng giao dịch và thông tin liên quan được cung cấp khi phát sinh mới hoặc có thay đổi.

Trường hợp cần thiết phục vụ công tác quản lý nhà nước, Sở giao dịch hàng hóa, Trung tâm thanh toán bù trừ có trách nhiệm cung cấp thông tin, dữ liệu theo yêu cầu của Bộ Công Thương hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Thông tư đồng thời thiết lập chế độ báo cáo định kỳ và báo cáo đột xuất. Báo cáo được gửi đến Bộ Công Thương thông qua Nền tảng quản lý thương mại và thị trường. Trường hợp chưa thực hiện được việc gửi báo cáo qua Nền tảng, báo cáo được gửi theo phương thức khác do Bộ Công Thương thông báo.

Báo cáo định kỳ gửi bằng phương thức điện tử phải được ký số theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử, trừ trường hợp báo cáo được lập, gửi trực tiếp trên Nền tảng quản lý thương mại và thị trường hoặc thực hiện thông qua kết nối dữ liệu tự động với Nền tảng. Nội dung báo cáo phải bảo đảm đầy đủ, trung thực, chính xác và đúng thời hạn.

Đối với báo cáo đột xuất, Sở giao dịch hàng hóa và Trung tâm thanh toán bù trừ phải thực hiện khi xảy ra sự cố kỹ thuật hoặc có nguy cơ ảnh hưởng đến an toàn hệ thống, hoạt động giao dịch, thanh toán bù trừ hoặc việc kết nối, cung cấp dữ liệu; biến động bất thường của thị trường có nguy cơ ảnh hưởng đến tính ổn định, công khai, minh bạch của hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa.

Báo cáo đột xuất cũng được thực hiện khi phát hiện dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc rủi ro có ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của thị trường; xuất hiện nguy cơ gây mất ổn định thị trường giao dịch hàng hóa, ảnh hưởng đến an ninh kinh tế - tài chính, trật tự, an toàn xã hội hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng liên quan đến hoạt động giao dịch.

Trong các trường hợp này, Sở giao dịch hàng hóa, Trung tâm thanh toán bù trừ phải thông báo kịp thời cho Bộ Công Thương, đồng thời gửi báo cáo ban đầu khi phát hiện sự việc và cập nhật thông tin cho đến khi sự việc được xử lý.

Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước là đầu mối giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương tổ chức thực hiện Thông tư; chủ trì tiếp nhận, tổng hợp, thẩm tra hồ sơ đề nghị thành lập Sở giao dịch hàng hóa; chủ trì xây dựng, quản lý, vận hành Nền tảng quản lý thương mại và thị trường; tiếp nhận, quản lý, khai thác dữ liệu và báo cáo phục vụ công tác quản lý nhà nước.

Thông tư số 47/2026/TT-BCT có hiệu lực thi hành từ ngày 15/9/2026, thay thế Thông tư số 38/2013/TT-BCT ngày 30/12/2013 của Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định về giải pháp công nghệ và yêu cầu kỹ thuật trong hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa.

Đối với Sở giao dịch hàng hóa và Trung tâm thanh toán bù trừ đã hoạt động trước ngày Thông tư có hiệu lực, các đơn vị có trách nhiệm thực hiện chế độ báo cáo theo quy định; đồng thời hoàn thành việc kết nối, cung cấp và chia sẻ dữ liệu trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày Bộ Công Thương thông báo Nền tảng quản lý thương mại và thị trường sẵn sàng kết nối.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
  • :
  • :