Thông báo điều chỉnh giá điện khí của Thành phố Thượng Hải (tháng 4/2026) - Liên hệ với Việt Nam
- Thông báo của Ủy ban Cải cách và Phát triển Thành phố Thượng Hải ngày 24/4/2026 về điều chỉnh giá mua điện khí cho thấy tác động của cuộc chiến vùng Vịnh đến giá điện khí Trung Quốc. Chuyên gia Tạp chí Năng lượng Việt Nam dẫn lại nội dung chính của bảng điều chỉnh giá điện bán lên lưới từ các tổ máy phát điện khí tự nhiên ở Thành phố này và liên hệ với Việt Nam.
Thượng Hải là một thành phố tiêu thụ điện lớn và có giá điện công nghiệp thuộc nhóm cao nhất Trung Quốc. Do tỷ lệ năng lượng tái tạo tăng cao, số giờ vận hành nhiệt điện giảm mạnh, Thượng Hải đã áp dụng trả “giá công suất” cho điện khí nhiều năm trước, ít nhất là từ năm 2019. Còn điện than được trả phí công suất từ năm 2024.
Từ ngày 1/5/2026, Công ty Điện lực Thượng Hải và các doanh nghiệp sản xuất điện liên quan cần điều chỉnh giá điện bán lên lưới đối với các đơn vị phát điện bằng khí tự nhiên. Giá được điều chỉnh cao lên phản ánh tình hình cung ứng khí tự nhiên bị ảnh hưởng bởi cuộc chiến vùng Vịnh. Trung Quốc tự sản xuất được 250 triệu tấn khí tự nhiên và nhập khẩu 67 triệu tấn vào năm 2025.
Giá điện năng của các tổ máy phát điện bằng khí tự nhiên được điều chỉnh ở mức 0,6434 NDT/kWh, tăng mạnh so với 0,5765 NDT/kWh hồi cuối năm 2025. Đối với các tổ máy dòng 9E (của hãng General Electric - GE, chủ yếu là chu trình đơn) phủ đỉnh phụ tải, dùng khí tự nhiên, giá điện cho số giờ phát điện hàng năm dưới 300 giờ sẽ tăng thêm 0,15 NDT/ kWh dựa trên mức giá trên. Đối với tổ máy có số giờ phát điện hàng năm từ 300 giờ đến 500 giờ giá điện sẽ tăng 0,1 NDT/ kWh trên cơ sở giá điện nêu trên. Tổ máy có số giờ phát điện hàng năm từ 500 giờ trở lên sẽ được coi là bình thường, không được cộng thêm giá.
Giá công suất không đổi. Có thể hiểu vì giá công suất dựa vào tổng chi phí đầu tư của một nhà máy điện khí chuẩn nên không biến thiên theo giá khí tự nhiên trên thị trường.
Giá điện năng của các tổ máy khí tự nhiên kết hợp phát cả điện và nhiệt (bao gồm các tổ máy có tua bin trích khí) là giá điện đối với tổ máy có 2.500 giờ phát điện hàng năm được điều chỉnh thành 0,6676 NDT/kWh và đối với tổ máy hàng năm phát điện từ trên 2.500 đến 5.000 giờ được điều chỉnh thành 0,5872 NDT/kWh. Giá điện cho số giờ phát điện hàng năm trên 5.000 giờ phải tuân theo giá chuẩn nhiệt điện than của Thành phố (0,4155 NDT/kWh). Giá công suất không đổi.
Giá điện nối lưới cho các tổ máy phát điện phân tán đơn lẻ (tổ máy đốt trong) dùng khí tự nhiên được điều chỉnh thành 1,0082 NDT mỗi kWh.
Giá công suất không đổi, cho tổ máy phủ đỉnh là 37,01 NDT/tháng.kW, cho tổ máy phát cả điện và nhiệt là 36,50 NDT/tháng.kW.
Bảng điều chỉnh giá điện bán lên lưới của các tổ máy phát điện khí tự nhiên:
Loại tổ máy | Loại giá điện | Giá điện 12/2025 | Giá điện 5/2026 | Quy ra VNĐ |
Phủ đỉnh | Giá công suất NDT/tháng.kW | 37,01 | Không đổi | 144.339 |
Giá điện năng NDT/kWh | 0,5765 | 0,6434 | 2.509 | |
Tổ máy kết hợp phát nhiệt và điện
| Giá công suất NDT/tháng.kW | 36,50 | Không đổi | 142.350 |
Giá điện năng NDT/kWh | Đến 2500 h: 0,6007 | 0,6676 | 2.604 | |
trên 2500 – đến 5000 h:0,5203 | 0,5872 | 2.290 | ||
Tổ máy phân tán | Giá điện năng NDT/kWh | 0.9392 | 1,0082 | 3.932 |
Sự hỗ trợ đối với điện khí được huy động số giờ thấp được thể hiện rất rõ ràng và nhất quán qua các năm.
Thứ nhất: Các tổ máy điện khí phủ đỉnh được trả giá công suất theo kW nhân với số tháng tổ máy sẵn sàng trong năm, không phụ thuộc vào điện năng sản xuất ra.
Thứ hai: Các tổ máy điện khí chuyên phủ đỉnh được huy động ít giờ được cộng thêm. Với tổ máy chạy dưới 300 giờ/năm sẽ được hưởng giá điện năng 0,6434 + 0,15 = 0,7934 (tương đương 3.094 đồng/kWh).
Các tổ máy đồng phát điện và nhiệt vì có số giờ huy động cao hơn trong năm do đi kèm với nhà máy công nghiệp nên có giá điện ưu tiên khác với tổ máy phủ đỉnh. Giá công suất cho các tổ máy này thấp hơn, còn 36,50 NDT/tháng.kW. Giá điện năng chỉ khi chạy dưới 2.500 giờ/năm mới được hưởng giá điện năng cao nhất, trên đó hưởng giá thấp hơn và nếu trên 5.000 giờ phải theo giá điện than.
Giá điện khí ở Thượng Hải như vậy vẫn rẻ hơn, nếu so với giá điện dựa trên giá LNG giao ngay tháng 4/2026. Một phần, vì Trung Quốc khai thác được khí tự nhiên, với khoảng 262 triệu tấn năm 2025 so với 67 triệu tấn nhập khẩu. Một phần quan trọng là do nhà máy điện khí đã nhận được tiền giá công suất, không phụ thuộc vào lượng điện năng phát ra.
Liên hệ tới Việt Nam:
Việt Nam đang trong quá trình cân nhắc gỡ bỏ các vướng mắc cho các nhà đầu tư vào điện LNG. Trong đó, giá công suất, hay chi phí cho sự sẵn sàng của nhà máy điện là một xu thế cần được xem xét áp dụng. Giá điện theo công suất tách bạch khỏi giá điện năng đã được áp dụng ở Trung Quốc, phù hợp với xu thế giảm dần thời gian phát điện của nhiệt điện (bao gồm điện than, điện khí) để nhường cho năng lượng tái tạo./.
ĐÀO NHẬT ĐÌNH - TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM
Tài liệu tham khảo: Thông báo số 19 năm 2026 của Ủy ban Phát cải Thượng Hải https://fgw.sh.gov.cn/fgw_jggl/20260424/62667a4bb7c44726a46cbe4c60c38c55.html



