|
  • :
  • :
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Khoa học công nghệ - “đòn bẩy chiến lược” trong hành trình chuyển đổi của Petrovietnam

Với Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam), khoa học công nghệ (KHCN) không chỉ là công cụ hỗ trợ sản xuất kinh doanh, mà đang được xác định là “tài nguyên chiến lược”, là nền tảng để chuyển đổi mô hình tăng trưởng, mở rộng không gian phát triển và hội nhập sâu hơn vào chuỗi năng lượng toàn cầu.

Khoa học công nghệ - “đòn bẩy chiến lược” trong hành trình chuyển đổi của Petrovietnam
Petrovietnam đang chuyển sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo

Từ một doanh nghiệp hoạt động chủ yếu trong khai thác dầu khí truyền thống, Petrovietnam đang chuyển mình theo định hướng Tập đoàn công nghiệp - năng lượng quốc gia, phát triển đa lĩnh vực từ dầu khí, điện khí LNG, lọc hóa dầu đến năng lượng tái tạo, hydrogen, chuyển đổi số và công nghệ xanh. Trong quá trình ấy, KHCN giữ vai trò “xương sống” của chiến lược phát triển.

PGS.TS Lê Bộ Lĩnh - nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội nhận định rằng, quá trình tích lũy tri thức và công nghệ trong suốt hơn 50 năm phát triển chính là “tài nguyên lớn nhất” của Petrovietnam. Theo ông, dầu khí là một trong những ngành ứng dụng KHCN sớm nhất tại Việt Nam, từ địa chấn, tìm kiếm thăm dò đến khai thác ở điều kiện địa chất phức tạp, vùng nước sâu, xa bờ.

Ngay từ những ngày đầu hình thành ngành, Việt Nam đã cử cán bộ sang Liên Xô, Pháp, Romania, Hungary… để tiếp cận công nghệ dầu khí hiện đại. Quá trình tích lũy ấy giúp Petrovietnam từng bước làm chủ kỹ thuật thăm dò khai thác, xây dựng các công trình lọc hóa dầu, điện khí, dịch vụ kỹ thuật cao và hình thành đội ngũ kỹ sư dầu khí chất lượng cao.

Theo PGS.TS Lê Bộ Lĩnh, điều quan trọng hơn là Petrovietnam không dừng ở tiếp nhận công nghệ mà đã từng bước hòa nhập với trình độ công nghệ tiên tiến của thế giới, đồng thời tạo ra những giá trị công nghệ riêng phù hợp với điều kiện Việt Nam. Đây chính là nền tảng để Tập đoàn bước vào giai đoạn chuyển đổi mới.

Trong nhiều thập niên, tăng trưởng của ngành dầu khí gắn liền với khai thác tài nguyên thiên nhiên. Tuy nhiên, khi các mỏ dầu khí truyền thống suy giảm, điều kiện khai thác ngày càng khó khăn và áp lực giảm phát thải gia tăng, mô hình tăng trưởng cũ không còn đủ dư địa.

Petrovietnam vì thế đang chuyển sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đây cũng là xu hướng phát triển của các tập đoàn năng lượng lớn trên thế giới.

PGS.TS Lê Bộ Lĩnh cho rằng, quan điểm “tài nguyên thiên nhiên là hữu hạn, tài nguyên KHCN và tri thức là vô hạn” phản ánh đúng yêu cầu tái cấu trúc nền kinh tế hiện nay. Với một ngành đòi hỏi hàm lượng kỹ thuật rất cao như dầu khí, đầu tư cho KHCN mang ý nghĩa sống còn đối với năng lực cạnh tranh.

Điều này thể hiện rõ trong chiến lược phát triển của Petrovietnam khi Tập đoàn ngày càng chú trọng đầu tư cho nghiên cứu khoa học, chuyển đổi số, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo và các công nghệ năng lượng mới. Việc duy trì Viện Dầu khí Việt Nam như một trung tâm nghiên cứu chiến lược cũng cho thấy định hướng lấy tri thức làm động lực phát triển dài hạn.

Không chỉ dừng ở nghiên cứu phục vụ khai thác, KHCN còn giúp Petrovietnam tối ưu vận hành, tiết giảm chi phí, nâng cao hiệu quả chuỗi giá trị và tăng khả năng chống chịu trước biến động thị trường năng lượng toàn cầu.

TS Lê Xuân Nghĩa - nguyên Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia từng nhiều lần nhấn mạnh rằng, trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế hiện nay, doanh nghiệp muốn phát triển bền vững phải dựa vào công nghệ và năng suất, thay vì chỉ dựa vào vốn hay tài nguyên. Đối với doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn như Petrovietnam, đầu tư cho KHCN không chỉ tạo tăng trưởng cho doanh nghiệp mà còn lan tỏa tới toàn bộ nền kinh tế thông qua chuỗi công nghiệp, dịch vụ và đổi mới sáng tạo.

Một trong những thách thức lớn nhất của Petrovietnam hiện nay là tham gia sâu vào quá trình chuyển dịch năng lượng toàn cầu. Đây không đơn thuần là thay đổi cơ cấu sản phẩm, mà là cuộc tái cấu trúc toàn diện về công nghệ, quản trị và mô hình phát triển.

Theo TS. Lê Xuân Nghĩa, giai đoạn nguồn tài nguyên dễ khai thác đang dần qua đi, trong khi yêu cầu phát triển xanh, giảm phát thải ngày càng mạnh mẽ. Điều này buộc ngành dầu khí phải “tự cải tổ mình” và chủ động tham gia tiến trình chuyển dịch năng lượng. Trong chiến lược mới, Petrovietnam đang mở rộng sang điện khí LNG, năng lượng tái tạo, hydrogen, ammonia xanh và các lĩnh vực phát thải thấp. Tuy nhiên, để cạnh tranh trong các lĩnh vực này, yếu tố quyết định chính là khả năng làm chủ công nghệ.

Các dự án như Nhơn Trạch 3 và 4, LNG Quảng Ninh hay các nghiên cứu về điện gió ngoài khơi không chỉ là bước đi đầu tư năng lượng mới, mà còn là quá trình tích lũy năng lực công nghệ cho giai đoạn phát triển tiếp theo.

KHCN cũng là chìa khóa để Petrovietnam thực hiện mục tiêu chuyển đổi xanh. Từ công nghệ thu hồi carbon, tối ưu hóa vận hành nhà máy điện, nâng cao hiệu suất lọc hóa dầu đến ứng dụng AI và dữ liệu lớn trong quản trị, tất cả đều hướng tới mục tiêu giảm phát thải và nâng cao hiệu quả năng lượng.

Theo các chuyên gia, lợi thế của Petrovietnam nằm ở chỗ Tập đoàn đã có nền tảng kỹ thuật, cơ sở hạ tầng công nghiệp và đội ngũ nhân lực chất lượng cao tích lũy qua nhiều thập niên. Nếu tận dụng tốt nền tảng này, Petrovietnam có thể rút ngắn đáng kể thời gian tiếp cận các công nghệ năng lượng mới.

Trong lĩnh vực năng lượng, hội nhập quốc tế không chỉ là hợp tác đầu tư mà còn là khả năng tham gia chuỗi công nghệ toàn cầu. Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải có trình độ quản trị và năng lực công nghệ tương thích với chuẩn quốc tế.

PGS.TS Lê Bộ Lĩnh cho rằng, Petrovietnam cần tập trung vào các công nghệ mũi nhọn, công nghệ nền để không bị tụt hậu trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Theo ông, nếu làm chủ được công nghệ, Petrovietnam sẽ giảm phụ thuộc vào đối tác nước ngoài, nâng cao vị thế trong hợp tác quốc tế và tăng giá trị gia tăng cho nền kinh tế.

Thực tế cho thấy, nhiều lĩnh vực của Petrovietnam đã đạt trình độ hội nhập cao như dịch vụ kỹ thuật dầu khí, vận hành công trình biển, lọc hóa dầu và điện khí. Tuy nhiên, giai đoạn mới đặt ra yêu cầu cao hơn: không chỉ tiếp nhận công nghệ mà phải tham gia sáng tạo công nghệ. Đây cũng là lý do Petrovietnam ngày càng nhấn mạnh vai trò đổi mới sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và xây dựng hệ sinh thái nghiên cứu - ứng dụng trong toàn Petrovietnam.

Diệu Đan


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết