|
  • :
  • :
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Công nghiệp sinh học: Đẩy mạnh nội địa hóa máy móc, thiết bị, vật tư

Quyết định số 1355/QĐ-BCT nêu rõ, tập trung nghiên cứu, thiết kế, sản xuất và phát triển máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất sản phẩm công nghiệp sinh học trong nước.

Mới đây, Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 1355/QĐ-BCT về việc phê duyệt Đề án phát triển công nghiệp sinh học thành ngành kinh tế - kỹ thuật lĩnh vực Công Thương. Trong đó, đề án đã nêu rõ nhiệm vụ: Phát triển năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo thiết bị công nghệ, tự động hóa, ứng dụng thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 trong lĩnh vực công nghiệp sinh học.

Hoạt động nghiên cứu công nghệ sinh học. Ảnh: Quỳnh Nga

Hoạt động nghiên cứu công nghệ sinh học. Ảnh: Quỳnh Nga

Cụ thể, tập trung nghiên cứu, thiết kế, sản xuất và phát triển máy móc, thiết bị, hệ thống và dây chuyền công nghệ đồng bộ phục vụ sản xuất sản phẩm công nghiệp sinh học trong nước; từng bước hình thành và hoàn thiện chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị của ngành công nghiệp sinh học.

Đẩy mạnh nội địa hóa máy móc, thiết bị, vật tư và nguyên liệu đầu vào nhằm giảm phụ thuộc vào nhập khẩu, nâng cao tính tự chủ của nền sản xuất, gia tăng tỷ lệ giá trị nội địa và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp công nghiệp sinh học Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời, thúc đẩy xanh hóa các ngành công nghiệp, sử dụng hiệu quả tài nguyên, nguyên liệu và năng lượng, góp phần giảm phát thải và bảo vệ môi trường.

Quyết định số 1355/QĐ-BCT cũng yêu cầu, phát triển công nghiệp sản xuất vật tư, nguyên liệu, hóa chất sinh học, chế phẩm sinh học và máy móc, thiết bị phục vụ nghiên cứu, sản xuất, chế biến và thương mại hóa sản phẩm công nghiệp sinh học; ưu tiên phát triển các sản phẩm hỗ trợ cho ngành công nghiệp chế biến, thực phẩm, dược phẩm, năng lượng, môi trường và công nghiệp phụ trợ.

Đồng thời, ưu tiên nhập khẩu máy móc, thiết bị, vật tư và các công nghệ cao, công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực công nghiệp sinh học mà trong nước chưa sản xuất hoặc chưa làm chủ được; tập trung vào các công nghệ nguồn, công nghệ lõi từ Liên minh châu Âu, Hoa Kỳ và các quốc gia có nền công nghiệp sinh học phát triển.

Việc nhập khẩu gắn với yêu cầu chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, tiếp nhận bí quyết kỹ thuật và từng bước nâng cao năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo trong nước.

Có thể thấy, Đề án không chỉ đặt mục tiêu phát triển công nghiệp sinh học ở góc độ tạo ra sản phẩm, mà còn hướng tới xây dựng năng lực nội sinh cho toàn ngành. Việc thúc đẩy nghiên cứu, thiết kế, chế tạo thiết bị và từng bước làm chủ các công nghệ sẽ tạo nền tảng để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị công nghiệp sinh học, thay vì chỉ dừng lại ở khâu gia công hoặc ứng dụng công nghệ nhập khẩu.

Khi năng lực công nghệ được nâng cao, doanh nghiệp không chỉ giảm chi phí sản xuất, tăng tính chủ động trước những biến động của thị trường quốc tế mà còn có cơ hội tạo ra các sản phẩm mang hàm lượng khoa học và giá trị gia tăng cao hơn.

Trong bối cảnh kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững đang trở thành xu thế toàn cầu, công nghiệp sinh học được xem là một trong những lĩnh vực có tiềm năng tạo đột phá cho tăng trưởng. Vì vậy, việc xây dựng năng lực nghiên cứu, thiết kế và chế tạo trong nước không chỉ góp phần nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp mà còn tạo nền tảng để hình thành một ngành công nghiệp sinh học hiện đại, tự chủ và có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết